Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

ĐẠO ĐỨC LÀ TÀI SẢN

   
          Trong bất kì xã hội, thời đại nào đạo đức con người là tài sản vô giá. Có đức độ, tài năng lớn thì giúp đời được nhiều, không có tài năng, có đức độ thì cuộc sống của bản thân họ an lành. Vì vậy, đạo đức là tài sản, cái tài sản ấy không tự nhiên có, con người ta phải học tập, tu dưỡng rèn luyện mà thành.
          Đạo đức là gì? Nói tổng quát: đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau, đối với xã hội. Với cá nhân, người có đạo đức luôn luôn tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức ấy.
          Tài sản là của cải vật chất dùng vào việc sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân, gia đình hay tập thể, đoàn thể, tôn giáo…chính quyền nào đó. Ngoài tài sản hữu hình, có một loại tài sản vô hình:  đạo đức nghề nghiệp làm nên uy tín, thương hiệu.
Ở Nhật, có một gia đình bán bánh truyền thống, mỗi ngày chỉ bán 100 bánh, không hơn. 08 giờ bán, người mua đã xếp hàng từ 05 giờ, mỗi khách hàng chỉ mua được tối đa 05 cái. Người không mua được sẵn sàng bỏ gấp ba số tiền để mua lại bánh của người mua được, nhưng không ai bán. Tại sao gia đình ấy không làm thêm để bán hay tăng gấp ba giá bán? Vì làm thủ công, nhân công trong gia đình chỉ có mấy người, mỗi người một việc, các công đoạn sản xuất phải đúng qui trình, đủ thời gian nên không thể làm thêm. Hơn nữa, quan điểm sống của gia đình ấy lấy đạo đức nghề nghiệp làm trọng, không chạy theo lợi nhuận với tôn chỉ “khách hàng hài lòng - gia đình hạnh phúc”. Ngẫm ra, văn hóa Nhật Bản được lưu giữ, viết tiếp bởi những gia đình như thế.
Đạo đức không phải chỉ ở nơi lời nói, phải biểu hiện bằng hành động. Còn nhớ ngày 11 tháng 3 năm 2011, đại thảm họa động đất – sóng thần, rò rỉ phóng xạ nhà máy điện nguyên tử  vùng Đông Nhật Bản làm 15.893 người chết, 6.125 người bị thương, 2.572 người mất tích, hàng chục nghìn người mất nhà cửa…nhưng không hề có nạn cướp bóc nào xảy ra. Người dân trong vùng thảm họa ấy nhường nhau từng hớp nước, mẩu bánh mì, cùng lực lượng cứu hộ tìm kiếm người mất tích, chăm sóc người bị thương…Ai cũng nuốt nước mắt vào trong, sẵn sàng giúp đỡ người khác, những hành động ấy lan tỏa, vực dậy tinh thần người Nhật, nên chỉ một thời gian ngắn sau vùng Đông Nhật Bản ổn định cuộc sống.Có ai tính được giá trị hành động xuất phát từ đạo đức thành tiền trong công cuộc tái thiết cuộc sống?
          Ở Việt Nam, chỉ nói riêng công trình cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi thôi, cũng đủ để cho người ít quan tâm thế sự không nén được tiếng thở dài. 34.500 tỉ đồng chi cho tuyến cao tốc ấy bằng thu ngân sách năm tỉnh Tây Nguyên trong hai năm! Thế nhưng chỉ sau một tháng sử dụng đã hư hỏng. Dù cho có vá lại mặt đường nhưng rồi tuổi thọ của nó được bao lâu? Những tai nạn giao thông có nguyên nhân vì mặt đường xấu có ai chịu trách nhiệm? Cho nên, không thể nói sửa lại mặt đường thì chất lượng công trình đảm bảo. Người ta tham nhũng không chỉ ở khâu rải thảm mặt đường đâu, còn ở tất cả các khâu khác nữa. Số tiền tham nhũng bao nhiêu tỉ chưa rõ nhưng có một điều ai cũng rõ: tuyến cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi là công trình kém chất lượng! Cũng không phải ai tham gia quản lí, thi công tuyến cao tốc ấy cũng đều dính vào tham ô, tham nhũng. Kĩ sư L.T.D cán bộ Ban QLDA gói thầu A3 dũng cảm tố cáo những tiêu cực của ông Mai Tuấn Anh (Chủ tịch Hội đồng thành viên VEC) tới Trưởng ban Tổ chức TW, Bộ trưởng GTVT, thì bị côn đồ đánh, rồi bản thân, gia đình bị đe dọa tính mạng. Ai đứng đằng sau những vụ việc ấy đang được công an điều tra làm rõ. Ngẫm ra, đạo đức con người phải gắn liền với dũng khí.
          Hằng ngày, các phương tiện thông tin đại chúng cho chúng ta biết bao nhiêu tệ nạn xã hội. Nguyên nhân của những tệ nạn ấy không có gì khác ngoài lối sống chạy theo nhu cầu vật chất, chụp giật, ích kỉ, thỏa mãn bản năng. Nhìn xa ra đó là hệ quả của phương pháp giáo dục sai lệch, môi trường văn hóa méo mó. Để phấn đấu cho một xã hội bình an, hạnh phúc hơn,có thống kê nào tính được mỗi năm nước ta phải bỏ ra bao nhiêu tiền của, sinh mạng của chiến sĩ công an, hiệp sĩ đường phố, của người dân lương thiện?
          Trong đời thường, chúng ta gặp rất nhiều minh chứng cho quan điểm: đạo đức là tài sản. Ngay trong một gia đình, cha mẹ sẽ cho đứa con nào mượn tiền làm nhà hay đầu tư vào một công việc nào đó? Đứa chí thú làm ăn, biết giữ chữ tín hay đứa có máu mê cờ bạc? Cha mẹ nào không thương con cái, nhưng đặt niềm tin vào con cái thì lại khác.
 Cùng bán một mặt hàng giá cả như nhau, cùng chung một mặt tiền, nhưng tại sao có người bán được nhiều, có người bán được ít? Đó có phải cái “duyên”? Cái “duyên” ấy có gì ngoài lời chào mời, nét mặt, cử chỉ toát lên sự gần gũi, chân thành  xuất phát từ căn cốt đạo đức? Không có căn cốt đạo đức dù có “diễn”như thật bao nhiêu đi chăng nữa cũng không qua mặt khách hàng được. Thất bại của người bán là khách hàng “một đi không trở lại”.
Nhu cầu về vật chất của con người rất chính đáng, chất lượng cuộc sống được ngày một nâng cao thực sự cần thiết nhưng không phải vì thế chúng ta đánh đổi tất cả. Chỉ số tăng trưởng kinh tế hằng năm của quốc gia là điều đáng mừng nhưng sẽ vui hơn nếu như chỉ số hài lòng của người dân năm sau cao hơn năm trước. Cuộc sống giàu có mà bất ổn không bằng vừa phải mà bình an, hạnh phúc. Chỉ số ấy là tài sản, tiền bạc đo được từ đạo đức xã hội. Trên thế giới, đã có một vương quốc lấy chỉ số hạnh phúc thay cho chỉ số phát triển kinh tế, đó là đất nước  Bhutan. Phải chăng quan điểm tư tưởng mới ấy chúng ta cần nghiên cứu, học tập?

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2018

HOÀN CÔNG DÙNG NGƯỜI

                                                                                                     Quản Trọng

          Bảo Thúc Nha là cận thần thân tín của Tề Hoàn Công. Một lần đàm đạo về việc nước, Bảo Thúc Nha nói:
          - Nếu bệ hạ chỉ muốn cai trị một nước, dùng tôi là đủ, nhưng muốn thống trị Trung Hoa không ai tốt hơn Quản Trọng!
          Tề Hoàn Công từng biết Quản Trọng chỉ là một nhà buôn tầm thường, đi lính thì bỏ trốn, nói tóm lại, ông ta chưa thành công một việc nào cả. Hơn nữa, trước đây từng dưới trướng một người đối địch với mình, từng có ý định giết mình.
          Theo Bảo Thúc Nha, ưu điểm hàng đầu của Quản Trọng là thẳng thắn, hành động vì lợi ích của dân bất kể ai đang nắm quyền. Ông ta sẵn sàng chịu thất bại trong cuộc chiến nếu đó chỉ là một cuộc chiến tranh luận.
          Nể lời cân thần, Hoàn Công triệu kiến Quản Trọng. Qua vài buổi đàm đạo, Hoàn Công nhận ra những hạn chế của mình, thấy được Quản Trọng có tầm nhìn rộng lớn, kiến thức thâm sâu. Quản Trọng được tin dùng, từ đó nước Tề hưng thịnh, đứng đầu Ngũ Bá.
          Chủ trương của Quản Trọng là cai trị dân thuận theo nguyên tắc của Đạo gia. Ông dạy cho dân những điều sau này được biết đến như là đạo đức, chuẩn mực Nho giáo, đó là lễ nghi, chính trực, công bằng và danh dự. Quản Trọng nhận thức, vận dụng quan điểm của Lão Tử: “Triều đình tốt nhất là triều đình mà người dân cảm thấy họ ít bị cai trị nhất” vào quản trị đất nước. Các nguyên tắc quản lí đất nước của ông được truyền rộng khắp Trung Quốc, Khổng Tử cũng đã tiếp thu, phát triển đưa ra dạy học trò.
          Khi nằm trên gường bệnh, biết mình không qua khỏi, Quản Trọng vẫn cố sức can gián Hoàn Công không dùng một trong ba người là Khai Phương, Dịch Nha, Thụ Điêu thay mình. Theo ông, bề ngoài họ tỏ ra trung thành nhưng từng có hành vi đê tiện trong gia đình, như vậy còn kém trong “tu thân, tề gia” nói chi đến “bình thiên hạ”! Bỏ ngoài tai lời can gián của Quản Trọng, Hoàn Công tin dùng cả ba người ấy, phong cho cả ba làm tới chức Thượng thư.
          Quản Trọng mất, ba người Hoàn Công tin dùng làm phản. Họ nhốt Hoàn Công vào ngục, bỏ đói cho đến chết. Nước Tề suy thoái từ đó.

          Giai đoạn đầu trị quốc, Hoàn Công may mắn có được cận thần trung tín Bảo Thúc Nha. Ông ta giỏi mà lòng lại rộng, tiến cử Quản Trọng mà không sợ Quản Trọng nắm quyền thế lớn hơn mình. Bảo Thúc Nha vì chủ, Quản Trọng vì dân, có được hai người ấy nước Tề giàu mạnh là phải.
            “Trung ngôn nghịch nhĩ”, không phải lúc nào lời Quản Trọng cũng được Tề Hoàn Công nghe theo. Tiếc thay, lời nói lúc lâm chung của một con người vì dân vì nước lại bị Hoàn Công bỏ ngoài tai. Cái kết thảm của Hoàn Công, suy cho cùng là cái chết của cái tôi cố chấp.

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2016

MỘT LẦN ĐI HÁT PHƯỜNG VẢI CỦA CỤ PHAN BỘI CHÂU


Hát phường vải ở Nghệ Tĩnh là diễn xướng dân gian có trình tự lớp lang khá chặt chẽ. Địa điểm hát thường là mảnh sân nhà nào đó vào mùa kéo sợi xe tơ. Các cô gái làng vừa làm việc vừa hát, đó là hát dạo. Các chàng trai đi ngang qua cổng (như vô tình) dừng lại hát vài câu ướm thử (hát hỏi),  bên nữ đối lại -  hát chào, hát mừng. Thế nhưng để được mời vào trong sân hát, các chàng trai phải qua thử thách hát đố. Hát đố nhiều lĩnh vực nhưng những câu đố thường được đưa ra nhất là đố chữ, đố tình huống lễ nghĩa. Trả lời không nhanh, không chuẩn là thua, do đó, đi hát nhiều người, phát huy trí tuệ tập thể là rất cần thiết. Nghe hát phường vải, có nhà nghiên cứu nói rằng lời hát thâm thúy cao sang nhưng lại rất dân dã.
          Nam Đàn là đất hát phường vải, nơi đây có nhiều giai thoại về những đêm hát của những bậc túc nho, những người chí lớn. Nghe qua mấy câu  xe kết (hát thương, hát nhớ, hát trách) trong một đêm hát phường vải ở Nam Kim của cụ Phan Bội Châu, chúng ta mới hiểu thêm chí khí của người đội đá vá trời.
          Một cô gái trẻ đẹp, thông minh có tiếng gửi gắm nỗi lòng mình với anh San:
Sắp nhau một gánh nặng nề
Giang sơn bịn rịn tình quê nghẹn ngào.
          Tiếng địa phương “sắp nhau” nghĩa là gặp nhau. Hình như cô gái biết Phan Bội Châu đang nghĩ đến giang sơn nên không hiểu được “tình quê nghẹn ngào” của cô. Phan Bội Châu hát đáp:
Đêm xuân gặp gỡ giữa đường
Non sông một đội cương thường hai vai
          Cô gái nói “sắp nhau một gánh nặng nề”, còn với Phan Bội Châu chỉ là “đêm xuân gặp gỡ giữa đường” mà thôi. Non sông một đội - ở trên đầu, là lý tưởng theo đuổi, sau đó mới đến hai vai gánh vác tam cương, ngũ thường, phân định rạch ròi trách nhiệm của trai thời loạn. Trong tam cương, phu – phụ xếp ở vị trí thứ ba, sau quân – thần, phụ - tử. Mượn chữ “cương thường” mà anh San nói đến, cô gái không còn úp mở nữa:
Chung vai, chung cả đò đầy
Cho em chung mẹ, chung thầy với anh.
          Biết cô gái yêu thương thật lòng, tha thiết như thế, nhưng tiếng gọi cứu nước canh cánh trong tim, Phan Bội Châu khéo léo từ chối mà không để cho cô gái tẽn tò, trái lại, nâng tầm cô lên:
Chung binh, chung tướng, chung vương
Cùng anh chung cả tứ phương sơn hà.
          Cô gái biết tình yêu của mình không mảy may thay đổi ý định Đông Du của San, than thở:
Vui chi một cuộc cờ tàn
Mà chàng xe ngựa một đoàn sang sông.
          Cô nghĩ thế nước đã như cuộc cờ tàn, chàng gắng gượng làm chi. Phan Bội Châu tin tưởng vào kết quả công việc của mình, lật ngược thế cờ:
Nhất vui là cuộc cờ tàn
Mã lên chiếu bí pháo toan chiếu trùng.
          Không biết sau này cô gái ấy có gặp lại Phan tiên sinh lần nào nữa hay không? Cuộc đời cô như thế nào chúng ta không biết nhưng chắc chắn một điều là hình ảnh chàng thanh niên yêu nước Phan Văn San sống mãi trong trái tim cô, trong lòng dân tộc.
          Nhớ cụ Phan, nhớ những đêm trăng nghe hát phường vải ở miền đất địa linh nhân kiệt, tôi ước gì diễn xướng dân gian ấy được bảo tồn, phát huy, được đưa vào trường học để thế hệ trẻ hiểu tinh hoa, bản sắc cha ông mình hơn.

            

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

BỐN MÙA EM...

        
          Mùa xuân rực rỡ hoa, mùa hạ rực rỡ nắng, mùa thu lá rơi thầm lặng, đường em qua trải tấm thảm vàng, đông về gió bấc từng cơn, cái lạnh buốt lạnh hơn, nỗi cô đơn vọng chân trời mây xám.
          Gió mùa xuân dịu nhẹ, ngọt ngào hương sắc mật hoa, ong bướm đùa vui dưới nắng ấm chan hòa, bên cành đào lấm tấm bông, má em hồng, ta chợt nao lòng với câu thơ cũ.
          Con đường xưa bụi đỏ, gió cợt đùa, muốn nhuộm hồng tà áo trắng tinh khôi, trời xanh cao vời vợi, tiếng ve giục, lòng ta bối rối, thay dòng lưu bút, ta chép cho em nhạc phẩm: “Xe đạp ơi”…
          Vội vàng chi thu tím cả sắc trời, lá rụng rơi theo dấu chân qua, em bước về miền cỏ hoa, ta nhặt lá xếp tên em, tên ta giữa trái tim vàng lá, gió nặng lòng ưu tư, vội vã, quét ngang qua, còn dấu hỏi giữa đất trời!
          Trăng mùa đông cứ đứng mãi không trôi, bàng bạc trắng ánh trăng rơi trên sương trên khói, đã bao lần lòng ta thầm hỏi: “mùa đông sao mãi cứ đơn côi?”, gió bấc rít lên từng đợt từng hồi, hồn ta lạnh nên sá chi giá lạnh.
           Em là em mà tỏa nên ánh nắng, sưởi ấm bốn mùa, sưởi ấm tim ta, em là em mà là gió là hoa, là xuân sắc căng tràn nhựa sống, xa cách em hồn ta trống rỗng, bốn mùa trôi não nuột tiếng bi ca, giam cầm em trong trái tim ta, ngoài kia đông cũng hóa mùa xuân thắm.

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

Vài suy nghĩ về mặt trái của đánh giá thi đua thiên về định lượng trong trường học


Những cái gì cân đong đo đếm được (định lượng) bao giờ cũng dễ dàng quản lý, cái gì không cân đong đo đếm được (định tính) rất khó quản lý. Chẳng hạn, việc số lần giáo viên chủ nhiệm tham gia sinh hoạt 15 phút đầu giờ với lớp đúng kế hoạch, Ban Giám hiệu quản lý được nhưng chất lượng sinh hoạt ra sao thì khó mà xác định. Chất lượng tốt xấu không hẳn phụ thuộc vào tần suất hay khối lượng tác động.
Cuối năm học, đọc bản tự kiểm điểm của giáo viên hao hao như nhau, có lẽ chung một mẫu (!) Vẫn cứ là lập trường chính trị kiên định vững vàng, vẫn là “nỗ lực trong công tác chuyên môn” (có số liệu minh chứng hẳn hoi), chất lượng bộ môn đạt, vượt chỉ tiêu nghị quyết…còn khuyết điểm là: còn nể nang trong việc góp ý đồng nghiệp hay “còn đôi lúc nóng nảy trong xử lý công việc” mà thôi. Khuyết điểm nêu ra vô thưởng vô phạt!
Bình xét thi đua cuối năm, Hội đồng thi đua nhà trường đau não vì hầu như ai cũng “tròn trịa” cả. Cắt ai cho vừa chỉ tiêu % quy định khi cứ nhìn vào số lượng bởi “con số biết nói” cơ mà. Hội đồng thi đua đau não cũng đúng thôi: khi giao chỉ tiêu, xây dựng kế hoạch năm học, tiêu chí thi đua chú trọng về định lượng. Việc thực hiện định lượng đạt chỉ tiêu nào đâu có khó.
- Chỉ tiêu dự giờ 18 tiết / năm, dự 19 tiết, vượt chỉ tiêu “cho chắc ăn”.
- Chỉ tiêu bộ môn 90 – 95%, chả dại gì mà không đạt hoặc cao hơn một chút, bởi “điểm trong tay ta” (cho điểm thấp ép học sinh học cua còn làm được huống chi nâng điểm), chứ không phải điểm số là thước đo chính xác năng lực, tri thức đạt được của học sinh như lý thuyết Lý luận dạy học.
- Gặp gỡ phụ huynh học sinh cá biệt có nguy cơ bỏ học 3 lần thì 3 lần. Ai biết được những lần ấy giáo viên chủ nhiệm trao đổi như thế nào, thuyết phục ra sao, chân thành hay hời hợt…
Tiêu chí chính không xác định được cắt ai để ai trong bình xét thi đua thì xét thêm tiêu chí phụ. Cô B không tham gia tham quan bãi biển X.H nhân ngày 8/3 nên bị cắt. Nhiều người nghĩ cô B tiếc trăm ngàn đồng đóng góp mà có ai biết cho chồng cô không có việc làm ổn định, đang nợ tiền chạy chữa thuốc thang con ốm tháng trước?...
Rồi Hội đồng thi đua cũng nhất trí 100% chốt danh sách đề nghị khen thưởng. Không ai cãi được vì căn cứ vào định lượng. Tổng kết cuối năm, Ban lãnh đạo, những người được đề nghị khen thưởng vui vẻ, hể hả cả, cụng li côm cốp mừng năm học thắng lợi!
Đầu năm học sau, phân công lại chủ nhiệm, lớp dạy, có đến 8/10 người than học sinh yếu, đạo đức kém! Tôi nghĩ than vãn, kêu ca đó là chính xác, nhưng những người kêu ca lại không nghĩ sự thực ấy bản thân mình phải chịu trách nhiệm lớn. Kêu ca là phê phán. Nhưng phê phán ai? Tít mù vòng quanh, nguyên nhân chính vẫn là ở suy nghĩ, hành động trong công tác năm học qua của chính bản thân mình.
Vào năm học mới,  một số thầy cô giáo tâm huyết với nghề âm thầm lặng lẽ lập kế hoạch cá nhân, tìm hiểu lý lịch học sinh lớp mình chủ nhiệm, trăn trở tìm ra phương pháp giảng dạy, giải pháp giáo dục tối ưu mặc dầu năm trước họ không đạt danh hiệu thi đua, mặc tiêu chí thi đua  nghị quyết của nhà trường năn học mới vẫn là định lượng.
Thầy A không đạt Lao động tiên tiến năm trước do thiếu một tiết dự giờ trong khi thầy phải dạy hơn đồng nghiệp nhiều giờ (nhưng cái định lượng ấy chả ai quan tâm bởi cứ vượt giờ đã có thù lao theo quy định nhà nước!). Thầy công tâm, kỹ càng  trong việc góp ý đồng nghiệp nhưng thầy có biết đâu người tiếp thu chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng. Phần lớn giáo viên dự giờ cho đủ chỉ tiêu nhưng ngại góp ý. Nếu được chỉ định, bao giờ họ cũng “ nhất trí với các ý kiến đã đóng góp”, kèm thêm vài câu khen vô thưởng vô phạt, ấy vậy nên được lòng đồng nghiệp, không mất phiếu bầu thi đua.
Ví như việc Đoàn trường phát động làm tập san Chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, thầy cô tâm huyết thì theo sát, động viên khuyến khích học trò lại được cho là “nhúng tay vào chuyện của học sinh”. Theo cách ngụy biện của những giáo viên lười biếng hay hạn chế về năng lực: “Việc nó nó làm, tham gia vào có được giải người ta cũng chê cười”. Lập luận ấy trái ngược với nguyên tắc giáo dục: bất cứ mọi hoạt động do nhà trường, Đoàn trường phát động, giáo viên chủ nhiệm phải là người tổ chức, định hướng cho lớp, chịu trách nhiệm trước kết quả đạt được. Thế rồi khi “đếm” phong trào thi đua trong bình xét, có tham gia là như nhau, chẳng ai quan tâm công sức tham gia của giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động ấy cả.
Cũng có giáo viên chủ nhiệm bám lớp nhưng học sinh vẫn trốn tiết, bỏ học, quậy phá trong giờ học, đánh nhau. Cái “cần cù” của họ không bù được “khả năng”. Mỗi tiết sinh hoạt cuối tuần họ “thích nghe học sinh nói dối” bởi cứ đưa ra câu hỏi: “Vì sao em không làm bài?”, “vì sao em đi học trễ”…Sau màn “phỏng vấn” đó là bài ca muôn thuở về sự đe nẹt, dọa dẫm: “Tôi sẽ…” nhưng có làm được đâu vì không có quyền hoặc vì thành tích lớp (và cũng gắn liền với thi đua của mình). Bám lớp như vậy là phản giáo dục, họ biến tiết sinh hoạt 15 phút đầu buổi học, sinh hoạt lớp cuối tuần thành tiết kiểm điểm cá nhân và tập thể! Họ quên rằng việc tổng kết, đánh giá thi đua tuần, triển khai công tác tuần tới chỉ 10 – 15 phút, còn lại sinh hoạt tập thể theo chủ đề hàng tháng, bồi dưỡng kỹ năng sống, phương pháp học tập cho các em. Thay vì hồ hởi chờ đợi được sinh hoạt lớp vào cuối tuần, các em có dịp thể hiện bản thân mình thì lại phải nghe giáo viên chủ nhiệm “ca bài ca muôn thuở”, ca chán bắt học sinh ngồi yên lặng chờ hết tiết…Sự “tra tấn” ấy góp phần thúc đẩy học sinh bỏ học, nhất là những học sinh hiếu động, ít được gia đình quan tâm. Vậy nên, khi xem xét tiêu chí thi đua giữ vững sĩ số học sinh đã có giáo viên chủ nhiệm nào, Hội đồng thi đua nào dám nhìn nhận nguyên nhân học sinh bỏ học có một phần lớn của chính mình?
Hoàn thành chỉ tiêu trong giáo dục là tốt nhưng sẽ tuyệt vời hơn nếu thực chất chứ không phải phù phép, chạy theo thành tích. Để phát triển bền vững giáo dục trong nhà trường, khi xây dựng kế hoạch, tiêu chí thi đua cần chú trọng hơn về giải pháp, chất lượng hơn là số lượng cụ thể. Giải pháp đúng đắn, khả thi cộng với tâm huyết người thầy sẽ cho ra kết quả tương ứng. Kết quả ấy lúc đầu có thể chưa “vừa lòng” các cấp lãnh đạo, nhưng khi nó được vận hành trơn tru thì chất lượng giáo dục mới thật vững chắc, mới làm nên “thương hiệu” đơn vị.
Đánh giá thi đua răm rắp theo định lượng không sớm thì muộn dần dần làm phai nhạt, nản lòng những thầy cô giáo tâm huyết. Đấy là hệ lụy đáng sợ nhất, những người được giao công tác quản lý giáo dục cần cảnh tỉnh nếu không sớm muộn gì rồi cũng làm hỏng phong trào thi đua trong nhà trường.

Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

HỌC ĐẠI HỌC ĐỂ LÀM GÌ NHỈ?

        
             Là một giáo viên, khi đưa ra câu hỏi: “Học Đại học để làm gì nhỉ?”, chắc chắn có người chửi: “Sao ông ngu thế?”, “Hỏi vậy mà cũng hỏi” hay: “Không vào Đại học thì cho con đi học suốt 12 năm trời để làm gì?”.
            Gốc gác là dân lao động nhưng cái tâm lí, cái hy vọng an nhàn, thu nhập ổn định, có lương hưu và cái căn bệnh sĩ nữa đã thấm vào máu phần lớn phụ huynh rồi truyền cho con cái. Không thể trách họ được, muốn tương lai con em tươi sáng là tốt, là chính đáng. Nhưng…tôi đặt ra câu hỏi: “Học đại học để làn gì nhỉ?” là thế này:
1. Đọc trên báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng (nhưng không dám cam đoan thông tin nào là chính xác bởi vênh lệch nhau), trên 65%sinh viên tốt nghiệp đại học không có việc làm hoặc làm trái ngành. Rất mâu thuẫn với những trường Đại học đi “Tư vấn mùa thi” nói rằng sau khi tốt nghiệp trường của họ 90% sinh viên có việc làm.
2. Nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học (ĐH) ở các thành phố lớn không xin được việc làm, bám trụ lại thành phố làm nghề phổ thông, phần lớn là các dịch vụ. Thật đắng cay cho công việc lao động phổ thông lại sử dụng nhân sự có trình độ ĐH, một sự lãng phí quá lớn.
3. Nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn tuyển nhân viên không cần bằng cấp cao. Ở ta các công ty loại này chủ yếu là gia công, sơ chế nên cần thợ hơn là cần thầy. Vậy nên đã có chuyện ngược đời, đã có em có bằng ĐH nhưng lại phải đi học lại…trung cấp để xin việc (!)
4. Viên chức đang hợp đồng có trình độ ĐH số lượng lớn, nhiều người có “thâm niên” 4 – 5 năm nay rồi vẫn chưa vào được biên chế vì chưa qua thi tuyển công chức. Mà có phải năm nào cũng tổ chức thi tuyển đâu, thành ra có việc làm 4 – 5 năm nay rồi vẫn ở thế bấp bênh. Đợt thi tuyển công chức vừa rồi ở tỉnh tôi, ngành Văn 12 thạc sĩ thi công chức chọn một, còn ĐH dự thi “đông như quân Nguyên”.
5. Nói học ĐH có thu nhập ổn định nhưng phần lớn lương “ba cọc ba đồng”, khó mà khá lên được. Tôi đọc bài của một thạc sĩ toán học làm ở Viện nghiên cứu Toán học ở trên mạng nói rằng lương của chị tháng 3 triệu, chưa bằng phân nửa thu nhập của bà bán xôi đầu ngõ nên có ý định bỏ nghề để…bán xôi! Tôi nghĩ suy nghĩ ấy là tích cực. Ngẫm lại bản thân, hồi những năm 1985 – 1996 tôi cũng đã từng có ý định bỏ nghề bởi đồng lương không đủ sống, may mà ở vùng nông thôn, ngày nghỉ chặt củi, ban đêm đi soi tôm nên cũng vượt qua được. Mấy người bạn “dũng cảm” bỏ nghề ra buôn bán bây giờ khá giả, nhà lầu xe hơi ở quê có, ở thành phố Hồ Chí Minh cũng có.
6. Nhìn chung chất lượng đào tạo ĐH những năm gần đây không cao so với trước bởi các trường ĐH mọc lên như nấm sau mưa. Tỷ lệ học sinh vào ĐH quá cao, không học được trường này thì học trường khác, chưa kể học dưới dạng liên kết đào tạo ĐH của các Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh. Bình quân chi phí cho con em một năm ăn học “bèo” nhất cũng 35 triệu, tính ra khi tốt nghiệp cũng mất hơn 140 triệu. Đây là khoản tiền quá lớn đối với người lao động. Có một điều khiến tôi băn khoăn là vào học ĐH, các em con nhà khá giả ít lao vào đua đòi hơn con nhà nghèo. Phải chăng bệnh “sĩ”, “cho bằng anh bằng em” nên vô hình trung các “sĩ tử” này góp phần duy trì, kéo dài thời gian thoát nghèo của cha mẹ họ.
Nhiều người khởi nghiệp chỉ vài ba chục triệu đồng, thậm chí chỉ vài triệu đồng (bán xôi sáng, cafê vỉa hè…) mà vẫn xây được nhà cửa khang trang, vẫn thong dong nuôi con… học ĐH(!) Có tấm bằng ĐH trong tay nhưng thất nghiệp lại đua nhau “chạy” việc làm. Chẳng ai nói thật “chạy” cho con em vào chỗ này, chỗ nọ hết bao nhiêu nhưng cứ nói chuyện về việc ấy là than thở. Đua nhau “chạy” thì nhiều nhưng mấy ai được toại nguyện? Riêng cái khoản nhậu, quà cáp làm quen cho có “tình cảm”, biếu xén ngày tư ngày tết ông X bà Z quyền thế đã toát mồ hôi trán rồi chứ chưa nói đến khoản “vi thiềng” chính.
Học để làm việc, học xong rồi cứ phải bám vào “ông” nhà nước mới sống được phản ánh thói ỷ lại, “được mặc đất mất mặc trời” của các cô cậu “cử”. Rất hiếm người học xong ĐH tạo được việc làm cho riêng mình, điều đó cho thấy sau khi ra “lò” ĐH, họ là những viên gạch có sức ì lớn. Và rồi trong tiến trình hội nhập của đất nước với thế giới, chính họ là những người lạc hậu.
Nói đi cũng phải nói lại, cũng có những sinh viên ĐH rất giỏi, rất xuất sắc vì họ có gốc gác kiến thức vững vàng từ thời THPT, chăm chỉ, biết sử dụng công nghệ thông tin vào mục đích học tập, nghiên cứu nên được “đặt hàng” khi đang còn ngồi trên ghế giảng đường. Rất tiếc là những người đó lại làm việc cho…các công ty nước ngoài thay vì làm cho nhà nước!
Một đất nước phát triển phải làm thỏa mãn lòng dân nhưng không phải cái gì cũng chiều theo ý dân. Trách nhiệm này thuộc về những nhà hoạch định chiến lược cấp Bộ, cấp trung ương. Các nước có nền kinh tế cao hơn Việt Nam, người ta phân luồng giáo dục sớm chứ không phải hướng đến “phổ cập THPT”. Một ví dụ, ở Đài Loan, tỷ lệ tốt nghiệp THCS vào THPT chỉ 1/3, còn lại là đào tạo nghề. Do vậy, tỷ lệ thợ lành nghề, kĩ sư rất cân đối đảm bảo cho sự phát triển kinh tế bền vững. Ở ta, thời của chúng tôi – thời bao cấp, có nhiều cái khổ, cái lạc hậu, nhưng có một điều mà các sinh viên tốt nghiệp ĐH bây giờ mơ ước: cứ tốt nghiệp là có việc làm ngay, đúng chuyên ngành đào tạo! Mà cũng đúng thôi, thời ấy rất ít trường ĐH, lại đào tạo theo nhu cầu địa chỉ vùng miền, đầu vào cực kì khó nên phải thực sự giỏi mới đỗ ĐH.
Mấy năm gần đây tôi không mấy quan tâm tới tỷ lệ học sinh đỗ ĐH mà ngóng xem các em tốt nghiệp ĐH có việc làm hay chưa…Có vị phụ huynh con không kiếm được việc làm, tôi “xúi dại” cho cháu học tiếp thạc sĩ. Mất hai năm học nhưng có việc làm, kiến thức chuyên môn vững vàng hơn. Cái thời điểm tôi khuyên anh ấy là vậy, còn bây giờ thạc sĩ cũng phải thi tuyển công chức, tỷ lệ chọi 1/12. Anh ấy đến chơi nhà, nhờ tôi “tham mưu”. Đâm lao phải theo lao, tôi nói
- Hay là anh cho cháu học tiếp tiến sĩ vậy!

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

HOÀI CỔ

          
  1. Sáng sớm mấy anh em đi bộ, anh Tám Mô, quê ở đây nhưng làm ăn xa, mới trở về “thủ từ đường” năm bảy năm nay, hỏi tôi:
            - Thầy ở đây hơn ba mươi năm rồi thấy địa phương có gì đổi khác không?
Tôi trả lời có khác nhưng “cơ bản vẫn vậy”. Anh Tám nói:
            - Buồn quá thầy ạ! Dân làm nông mà có hột phân bò nào cũng đem bán cho tỉnh khác ráo trọi. Lúa, mía thì khi nào cũng phân đạm, thầy thấy đấy, đất đai chai sạn, cây mía mà như cây sả!
            Hai Lại mới đi du lịch kết hợp làm thêm ở Hà Lan về, nói:
            - Không thay đổi vì không chịu đổi mới cách suy nghĩ, mà ngay cả mấy ông ủy ban, công văn nói sao làm vậy, không đọc, không học, không trăn trở làm sao cho giàu thì nói chi đến dân!
            Rồi chuyện xoay sang bờ kè chống xói lở, chuyện mở rộng quốc lộ 1A.
            - Rừng phá hết nên giờ phải xây kè chống xói lở. Mà ai phá? Dân phá! Vợ cán bộ buôn than thì có phải tiếp tay cho dân phá không? Thời đánh Mĩ không nói làm gì, thời Pháp, ông nội tôi kể, kiểm lâm có mấy người mà quản cả tỉnh. Vì sao họ quản được? Vì người ta thực thi pháp luật nghiêm minh. Bây giờ rừng phá cứ đổ cho lực lượng kiểm lâm mỏng. Cái gốc không là ở đấy, mà là ý thức trách nhiệm trong sự thực thi pháp luật kia…Không biết đến khi nào việc thực thi pháp luật được như thời Pháp – Tám Mô thở dài.
Hai Lại kéo Tám Mô vào sát mé đường tránh chiếc xe ba gác, than thở:
            - Đường đã xấu mà còn dùng xe múc cào cho nham nhở. Cào rồi để đó cả năm trời. Ô tô qua bụi mù mịt, xe máy chạy dồng tức cả ngực, không mấy bữa mà ốc vít cái nào cũng kêu…không như thời Mĩ, họ làm đến đâu là gọn đến đấy.
            Lại hoài cổ. Tôi nhớ khi vào đây dạy học, năm 1984, con đường quốc lộ mới Mĩ làm trước giải phóng, nghĩa là cũng được mươi mười lăm năm năm rồi mà vẫn láng bóng, mãi đến những năm 2006 – 2007 mới tráng nhựa lại, như vậy tuổi thọ mặt đường 30 năm có lẻ. Mong sao Dự án mở rộng, nâng cấp quốc lộ 1A khi hoàn thành, mặt đường có tuổi thọ từ 15 – 20 năm đã là hạnh phúc lắm rồi. Báo chí đưa tin đường cao tốc Long Thành – Dầu Dây, Hà Nội – Lào Cai mới khánh thành đó mà đã có chỗ nứt, lún rồi thì chất lượng con đường đang làm ai mà biết được nó sống được bao lâu?
            2. Nhắc đến việc xây bờ kè mới nhớ lại buổi trò chuyện với Đặng Cao Khải – Phó Bí thư thị ủy, nhân dịp về trường dự lễ tổng kết. Hai Khải trước đây là trưởng phòng giáo dục nên chuyện trường lớp “rành sáu câu”. Nghe báo cáo tổng kết, ghi vài ý, lên phát biểu ngoài việc khen đúng mực, anh trăn trở về chất lượng đội ngũ giáo viên và nhất là ý thức đạo đức học sinh không được như ngày trước.
            Thầy Trân – Phó Hiệu trưởng nhà trường hỏi bao giờ thì xây xong bờ kè, anh cười: “Ông hỏi tôi thì tôi biết hỏi ai? Đùa tí cho vui chứ nó phụ thuộc vào nguồn vốn cấp của trung ương, với lại khi xây dựng dự toán cách đây mấy năm, bây giờ trượt giá, cũng chưa biết làm sao đây”. Rồi anh nói về ngày xưa, mà mới hai mươi hai lăm năm nay thôi, hai bên bờ đầm là những dải rừng bần đẹp lắm. Nếu giữ được dải rừng bần ấy mà phát triển du lịch thì tốt biết bao. Dân phá bần đua nhau làm đìa nuôi tôm, một hai vụ đầu chưa ô nhiễm nên trúng lớn, rồi sau đó là thất bại nối tiếp thất bại; nhiều lúc nghe báo cáo mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản không biết vui hay buồn nữa. Mà tôi thấy ở ta nuôi trồng thủy sản nó mâu thuẫn với việc phát triển du lịch biển mấy ông ạ…
            Nhìn ra hai bên bờ đầm chói chang nắng, những cái đìa thòi ra thụt vào, bờ sạt lở trông thật thảm hại, Hai Khải trầm ngâm:
            - Giá mà giữ được những rặng bần như ngày xưa thì đẹp biết mấy…

         

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

CHUYỆN NỌ XỌ CHUYỆN KIA (5)

         
 Toàn đứng dậy, kêu phục vụ tính tiền cafê, anh Tuấn nói: “Chú có việc về trước đi, để đấy, hôm nay rảnh, bọn anh ngồi thêm chút nữa”.
          Nhìn theo cái vẻ vội vội vủa Toàn, Đức râu thở dài:
- Nó nể anh em mình lắm nên mới đi, nhà nó trăm việc đều đến tay, vợ thì đoảng, bà già thì đồng bóng, khó chịu.
Anh Tuấn nói;
- Mình bảo đi làm với mình, công việc ổn định, anh em no đói có nhau, thế mà đùng một cái, bà già nó nói với mình: “Thằng Toàn đi làm với bác thì ai lo chuyện cúng quảy ở nhà?”
Hưng châm thêm bình trà, vẻ mặt hơi cau lại, giọng “ông cụ non”:
- Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Bà già nó đồng bóng thế mà nó không nặng nhẹ nửa lời. Có lần tôi chứng kiến chuyện vô lý bà già nó, mình là khách mà cũng thấy bực, nó lại vui vẻ chiều chuộng, xong việc, nó nói nhỏ với tôi: “Miễn sao bà vui là được, một lần già ba lần trẻ ấy mà!”
Tôi biết Toàn hồi mới về trường, trong một cuộc nhậu anh Tuấn “chủ xị”. Biết nhau, gặp thì chào hỏi, mời nhau điếu thuốc hay ly cafê  nhưng không thân mật lắm, hai ba lần nhà có việc, gọi điện mời nhậu nhưng Toàn kiếu vì bận việc nên sau đó tôi không mời nữa. Anh Tuấn bảo: “Nó bận thiệt, sắp xếp được nó đi liền. Được cái, bạn bè gặp khó khăn, bất trắc, nó biết là có mặt ngay”.
Nghe Hưng nói về Toàn như vậy, tôi có cảm giác nhồn nhột. Cho mãi tới hôm nay tôi vẫn chưa biết chính xác nhà Toàn. Coi nhau là bạn mà như thế thật tệ. Tôi đề xuất:
- Hay là hôm nay chúng ta đến nhà Toàn, có việc gì giúp được thì giúp, nếu bà cụ vui vẻ thì tổ chức nhậu ở đó luôn?
Mấy anh em nhất trí ngay. Tôi nói anh Tuấn và Hưng cứ đi trước, tôi và Đức râu tạt qua chợ mua mồi nhậu, ít bánh trái làm quà cho bà cụ, lần đầu đến thăm nhà cũng cần chu đáo một tí.
Nhà Toàn ở sâu trong xóm, cổng vào trồng hoa dâm bụt, vườn tược rộng, sạch sẽ. Đức râu vừa dừng xe thì đã thấy bà cụ ngồi bên cái bàn trà trước hàng ba, nói chuyện với anh Tuấn. Chúng tôi chào, bà cụ đon đả:
- Chào thầy giáo, chào anh Đức. Tui bảo thằng Toàn mãi mà hôm nay thầy giáo mới tới chơi.
Anh Tuấn đỡ lời:
- Thầy Thắng bận việc hơn tụi con, với lại có đến thăm bác phải vài ba đứa mới vui.
Bà cụ không nói gì, kéo ghế mời chúng tôi ngồi uống nước. Đức râu nói:
- Hôm nay bọn coi tới đây nhậu đấy, bắt đền bác không cho thằng Toàn đi chơi với tụi con, thôi con xuống bếp sửa soạn đây.
Bà cụ không trả lời, quay sang hỏi tôi:
- Theo thầy, nhậu như thế nào cho đúng ý nghĩa?
Chưa biết ý bà cụ ra sao, tôi vừa trả lời vừa chăm chú theo dõi nét mặt bà cụ:
- Thưa bác, theo con lâu lâu anh em gặp nhau nhậu một bữa, nói chuyện để quên đi những vất vả, lo toan trong cuộc sống. Nhậu có ý nghĩa thì bạn bè phải hợp nhau, bia rượu uống có chừng mực.
- Thầy nói đúng! Tui hỏi, thằng Toàn cộc lốc: “nhậu là để cho vui”. Chả bù cho ba nó. Hồi ổng còn sống, lâu lâu tui lại xúi ông nhậu. Để chi? Để nghe các ông đàm đạo văn thơ, đạo lý con người. Mấy ổng hay ngâm câu thơ: “Rượu ngon không có bạn hiền/ Không mua không phải không tiền không mua”. Mà mấy ông kỹ lắm, có văn hóa lắm. Ba thằng Toàn nói với tui: “Nhậu thứ nhất phải có bạn tâm đầu ý hợp, thứ hai phải có địa điểm phù hợp, cảnh đẹp, thứ ba mồi nhậu phải đúng mùa”. Cũng nhậu cả buổi mà có ai say đâu, cốt mượn chén rượu để nói chuyện cho hưng phấn, thế mà không bao giờ ồn ào.
Tôi giật mình, nghĩ bà cụ sâu sắc quá. Có lẽ bà cụ giữ nếp nhà nên thế hệ con cháu cho là đồng bóng chăng? Như đọc được suy nghĩ của tôi, bà cụ tiếp:
- Thầy giáo và bác Tuấn xem, bọn trẻ bây giờ xô bồ quá. Uống bao giờ cũng phải say, hò hét ảnh hưởng tới người khác rồi ra đường gây tai nạn giao thông. Nuôi đứa con cho đến tuổi trưởng thành không nói gì vật chất, lao tâm khổ tứ lắm mà chúng có biết quý cái thân đâu, nói chi đến báo hiếu. Nghiện ngập, cờ bạc, rượu chè, cá cược trộm cắp…đủ cả. Tui đọc báo, cứ lo lo là thanh niên như thế không biết rồi có giữ được nước không ấy chứ?…
Rót cho bà chén nước, tôi nhẹ nhàng đáp:
          - Bác ạ, thanh niên hư hỏng như bác nói chỉ là một số ít thôi. Trong xã hội ta có nhiều tấm gương tiêu biểu trong học tập, lao động, nghiên cứu sáng tạo lắm.
Bà cụ nhấp chén nước, cung cách vừa sang trọng, cung kính nhưng hết sức tự nhiên. Đặt cái chén nước xuống bàn, giọng băn khoăn:
          - Thầy và bác Tuấn nghĩ coi, báo chí toàn nêu những chuyện xấu, lâu lâu mới có một chuyện tốt, cho nên, đọc càng nhiều càng chán nản. Tui nghĩ đưa những chuyện để bà con cảnh giác thôi, chuyện xấu nên bớt lại. Bọn trẻ bây giờ làm nhiều chuyện sai quấy, nhắc nhở thì chúng khó chịu, đôi khi còn cãi lại. Tui có thằng cháu họ, học trường thầy đấy, trốn học, lười học, bảo nó học thế làm sao cho giỏi được, nó nói: “bà xem học giỏi để làm gì, các ông làm lớn có ai học giỏi đâu.” Thật hết biết, mà ngẫm ra thời buổi bây giờ cũng thế thật.
Anh Tuấn đỡ lời cho tôi:
          - Nhà trường nào chẳng dạy cái hay, cái tốt hả bác. Đạo đức học sinh kém xã hội đỗ lỗi cho nhà trường thiếu giáo dục. Bác nghĩ coi, bốn tiếng ở trường, hai mươi tiếng ở nhà, ở ngoài trường biết bao thói hư tật xấu dễ tiêm nhiễm.
Bà cụ cười, phô hàm răng đầu, đen bóng:
          - Nói bác và thầy đừng giận, tui nghĩ bác Tuấn nói thế chưa đúng đâu. Tôi thấy mấy đứa cháu ở nhà, đứa học cấp I thì ngày hai buổi ở trường, về nhà ăn vội, tắm vội, coi ti vi một chút rồi lăn ra ngủ. Mấy đứa học cấp II, cấp III thì sáng học ở trường, chiều học cua, rồi sinh hoạt múa hát đoàn đội, có ngày nào ở nhà đâu? Trừ thời gian ngủ, nghỉ ra thì đều học cả đấy chứ? Học thế mà không giỏi, không ngoan thì có lẽ do chương trình hay sách vở gì đó thôi phải không thầy? Tui xem ti vi thấy đại biểu phỏng vấn cái ông gì gì Luận đấy nói vậy.
          - Chịu bác thôi! Anh Tuấn cười xòa. Tôi chỉ biết nói theo “đường lối”:
          - Vậy mới phải cải cách giáo dục bác ạ. Cũng cần phải thay chương trình, sách giáo khoa cho phù hợp với xu thế thời đại.
          - Thay gì thì thay, cải gì thì cải, nhưng phải giữ được nề nếp. Đứa cháu học cấp I, đi học về chạy ùa vào sân, thấy tui chào vội chào vàng cho có lệ, đứa học cấp III thì chẳng mấy khi chào. Nhắc nhở thì mẹ nó cho là làm khó cháu. Lễ phép mà bắt buộc thì lễ phép làm chi? Tui nghĩ Việt Nam có văn hóa Việt Nam, thời tui có mấy người được đi học đâu mà lễ nghĩa, có trên có dưới, không ai không kính trọng thầy giáo, người lớn tuổi, trong làng ngoài xóm không mấy khi to tiếng, nặng lời với nhau. Làm chi cũng nghĩ phải trái, có ảnh hưởng tới gia tộc hay không. Học theo người Sin, người châu Âu, tui nghĩ học cái công nghiệp thôi, còn đạo đức cứ phải là theo nề nếp cha ông!...
          Toàn bưng dĩa trái cây sắp lên bàn thờ, tôi giật mình tưởng ngày rằm, bấm điện thoại xem thì đúng là 14 âm lịch. Bà cụ nói:
          - Nhà tui xưa nay thắp nhang ngày 14, ngày rằm. Ngày rằm, mùng một tuyệt đối cả nhà ăn chay theo nếp ông bà.
Rồi bà cụ hỏi Toàn:
          - Có hái mấy trái xoài ngoài vườn không đấy? Trái cây ở chợ bây giờ không tin tưởng được, toàn nhúng thuốc Tàu. Tháng trước nhà tui thắp nhang, mấy trái bom (táo Trung Quốc) để cả chục ngày không hư. Ba thằng Toàn nói với tui: “đồ cúng cốt phải sạch, tưởng nhớ ông bà cha mẹ cốt ở tấm lòng”. Vậy nên tui mới bắt thằng Toàn ở nhà  cúng quảy. Nói thiệt với thầy, bác Tuấn, chẳng qua là cái cớ thôi, bắt nó ở nhà là để kèm cặp, coi sóc mấy đứa cháu, chứ cứ chiều con như vợ nó thì kiểu chi mà không hư.
          Tôi thật không ngờ bà cụ quan tâm nhiều đến giáo dục như thế. Nói chuyện với cụ tôi ngộ ra được nhiều điều. Lâu nay cứ ra rả gia đình là tế bào xã hội, thế nhưng người ta quên mất vai trò giáo dục của gia đình, dòng họ. Đang nghĩ thế thì Toàn lên nhà:
          - Đây toàn anh em thân thiết cả, con tính đặt bàn nhậu sau vườn được không má?
          - Má  thấy vậy là không được, mấy anh em không nói làm gì, còn có thầy giáo lần đầu tiên đến nhà chơi.
          - Bác cứ xem con như anh Tuấn, như Toàn thôi, cho thân mật bác ạ. Mà bác cũng ra ngồi nói chuyện với anh em cháu cho vui chớ? Tôi nói.
          Bà cụ đứng dậy, đặt cái chén vào khay:
          - Thầy và bác Tuấn thông cảm, mấy anh em chơi với nhau cho vui! Không ngán tui nói chuyện lẩm cẩm, rảnh đến tui chơi. Lâu lâu có người nói chuyện thú lắm.
          Bà cụ vào nhà, châm đèn thắp nhang. Lục gì trong ngăn tủ một chút, bà cụ gọi:
          - Toàn ơi, có thấy vỉ thuốc đau bụng má mua đâu không để má thắp nhang, hôm qua má mơ thấy ba mày kêu đau bụng đấy!

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

Chuyện nọ xọ chuyện kia (4)



1.Sáng nay, vợ dạy buổi cuối cùng trước lúc nghỉ hưu, tiết trả bài viết số 1. Đúng chương trình thì tuần sau mới trả, đôn lên trả bài trước, như lời bà xã: ‘cho trọn vẹn công việc, ba mươi năm còn cố được thì một tuần, vài buổi có là chi”.
Vợ mình sinh đầu tháng 9 nên phải công tác trọn tháng, đúng 1/10 mới nghỉ hưu. Các ngành khác ít ra cũng được nghỉ từ 3 đến 6 tháng, thậm chí cả năm, hưởng 100% lương, còn ngành Giáo dục “vắt cho sạch giọt nước cuối cùng”, nghĩ cũng bạc!
 Ấy vậy mà có người đòi tăng tuổi nghỉ hưu của phụ nữ cho “bình đẳng” với nam giới. Mình nghĩ những người đòi quyền ấy thuộc loại “ngồi mát ăn bát vàng”, chứ trực tiếp giảng dạy, trực tiếp lao động thử xem. Có lần uống cafê “tám” về đề tài ấy, mình nói: “Cứ cho những người ấy xuống cuốc mỏ thử thách 10 ngày. Làm được như công nhân thì cho tại vị đến 60 tuổi”. Nguyệt, cô giáo dạy mầm non mới ra trường, nói: “Em nghĩ nếu những người ấy làm nghề cuốc mỏ e rằng chưa đến 40 tuổi đã đòi nghỉ hưu”.
Buổi trưa, vợ mình đang nấu cơm thì hai đứa con ở thành phố gọi điện về hỏi mình “tâm trạng má như thế nào?”. Mình bảo “trên đời này có phải mình má về hưu đâu, ai chẳng thế”. Chúng nó phân bua vì hỏi như vậy là thấy nhiều người về hưu có “tâm trạng”. -“Đó là những người có bổng lộc, không trực tiếp lao động, còn nói như má các con từ giờ trở đi buổi trưa được ngủ thẳng giấc, tối thoải mái xem phim, khỏi lăn tăn gì về giáo án và những xấp bài chưa chấm”.
Thời gian rảnh vợ mình thường lên mạng đọc báo. Cách đây mấy hôm, vợ mình nói: “Em về hưu thế là còn may mắn, được hưởng 75%, mỗi năm công tác dư ra được tính nửa tháng lương, quan trọng hơn là Bảo hiểm xã hội chỉ lấy trung bình cọng 5 năm cuối làm căn cứ tính tỷ lệ lương hưu, còn anh như cách tính mới của Bảo hiểm xã hội đang trình Quốc hội thì thiệt thòi nhiều”.
2. Nói đến lộ trình cải cách lương hưu Bảo hiểm xã hội (BHXH) đề xuất Quốc hội bắt đầu thực hiện từ năm 2018, mình băn khoăn mấy lẽ sau:
- BHXH trình Quốc hội nguy cơ “vỡ quỹ lương hưu”. Sao thế nhỉ? Từ khi đất nước thống nhất cho đến nay tỷ lệ nộp tiền bảo hiểm như vậy, trả lương hưu như vậy sao lại “vỡ quỹ lương hưu’? Không thể nói “thu ít chi nhiều được”,  quyết sách chiến lược về BHXH cấp Nhà nước là dài hạn, vậy những chuyên gia về BHXH rồi Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội trước đây tính toán ra sao? Thiết lập công thức thế nào mà “có nguy cơ vỡ”? Rồi tiền đóng bảo hiểm xã hội chẳng lẽ nằm im trong két sắt 100%? Hay việc “đầu tư” của ông BHXH vào lĩnh vực nào đó bị thua lỗ dẫn đến vỡ quỹ lương hưu? Chuyện này có “trời” mới biết, cái loại cóc nhái mới nhảy lên làm người như mình thì chỉ biết nghiến răng, kêu ộp oạp khi ngứa họng vì thời tiết chuyển mùa mà thôi.
- Kể ra cái anh BHXH cũng lắm mẹo. Trình Quốc hội tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động không xong vì vi phạm luật thì anh ta lách luật. Và theo cách tính của BHXH thì chắc chắn đời sống của người hưởng lương hưu từ năm 2018 có bước thụt lùi rất lớn; theo như tính toán của một số đại biểu Quốc hội là khoảng 10% trong khi nền kinh tế nước ta tăng trưởng đều, lạm phát được khống chế?!
Mấy lẽ thắc mắc mình cố tìm lời giải mà không thể. Đọc báo in, báo mạng vẫn không rõ nguyên nhân. Mà rõ sao được khi ông BHXH cố tình bưng bít. Để chống tiêu cực, tham nhũng, xây dựng xã hội công bằng, văn minh Đảng ta đã nêu khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nếu được, có lẽ cũng cần bổ sung thêm : “Công chức biết, công chức bàn, công chức làm, công chức kiểm tra”. Không biết ngọn ngành thì đành ấm ức, nghe theo phán quyết Quốc hội thôi!

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

BÀN VỀ CHỮ DANH



            Từ xưa tới nay, về định nghĩa, chữ DANH không thay đổi nhưng người ta nhìn nhận, đánh giá, phấn đấu để đạt được rất khác nhau. Sự khác nhau đó từ vốn liếng nền tảng văn hóa mà người ta có được.
            “Danh chính ngôn thuận”, nghĩa là có chính danh, chức danh nói ra người khác mới nghe theo. Chẳng hạn, thầy giáo cấp nào giảng dạy cấp ấy, môn nào dạy môn ấy, nếu trái đi chắc chắn dạy chẳng trò nào nghe.
            Ở đời, ai cũng muốn lời nói, hành động của mình được người khác nghe, biết, làm theo hay đồng cảm, số lượng người nghe, biết càng nhiều càng thể hiện “giá trị”, vị thế của mình trong xã hội, thế là có DANH! Để có được cái danh ấy người ta phấn đấu, hành động, ứng xử… tựu trung là đi trên những con đường:
            - Tu dưỡng đạo đức, luôn đặt mình trong khuôn phép xã hội.
            - Cố công học tập, rèn luyện đễ đỗ đạt, thành tài.
            - Làm giàu.
            - Chạy chức chạy quyền.
            - Sống ngoài vòng cương tỏa luật pháp.
            - Theo đạo giáo, đảng phái.
            - Các hoạt động liên quan đến công chúng.
            Người chân chính xem chữ DANH là cống hiến, là phải làm được những điều tốt đẹp cho đất nước, nhân loại. Chữ DANH chỉ đúng nghĩa, hoàn hảo với một người khi nó là kết quả của “công thức”: TÂM + TÀI + TẦM => DANH. Trong đó TÂM ở vị thế số một, TÀI và TẦM ngang nhau.
            Có Tâm, có Tài nhưng đặt vị trí không đúng Tầm sẽ không phát huy được hiệu quả. Người có Tài cao đặt ở vị trí thấp là lãng phí, ngược lại, Tài không xứng Tầm, cho dù có Tâm đấy, nó vẫn cản trở sự phát triển của địa phương, đơn vị hay lớn hơn là quốc gia. Như vậy, chữ DANH, suy cho cùng, ngoài sự phấn đấu của từng cá nhân còn có sự “ban phát” của một tổ chức, đảng phái, tôn giáo… nào đó hay tư tưởng cục bộ địa phương.
            Dưới thời phong kiến, chữ DANH rất được coi trọng, nhất là với đấng nam nhi:
            Làm trai đứng ở trong trời đất
            Phải có danh gì với núi sông!
                                  (Nguyễn Công Trứ)
            Công danh nam tử còn vương nặng
            Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ  Hầu.
                                   (Phạm Ngũ Lão)
 Chữ DANH ấy gắn với lập công chống giặc cứu nước, với mở mang bờ cõi, làm cho dân no ấm, đấy đích thực là Công Danh. Còn những kẻ dùng chức, có quyền của mình vụ lợi cho gia đình, dòng tộc thì đó chính là Lợi Danh. Có người, chưa bằng lòng với sự giàu có của mình, bỏ tiền mua phẩm tước sánh với đời thì chữ Danh đó phải đứng sau chữ Hư. Cũng chuyện mua quan bán tước nhưng ngày xưa và ngày nay khác nhau xa. Vì lợi mà người ta làm hoen ố đi hình ảnh của mình, thậm chí của một ngành, như thế gọi là Ố Danh. Xin kể một câu chuyện có thật mà ngỡ như đùa:
            Có hai cha con, người cha lái, người con phụ xe đang chạy tuyến Thanh Hóa – Nghệ An thì công an giao thông tuýt còi. Xe tải mới mua, chở không quá tải, giấy tờ hợp lệ, chẳng vi phạm luật giao thông nhưng cảnh sát giao thông vẫn đòi làm “luật”. Thôi thì mua sự cầu toàn đường xa, làm ăn còn gặp nhau nhiều, người cha đành kẹp tờ giấy bạc 100.000đ trong tờ giấy làm “luật”. Tay cảnh sát giao thông giở ra xem, lắc đầu, giơ hai ngón tay. Người cha năn nỉ: “Tội quá sếp ơi, cha con tui phải vay mượn, cắm sổ đỏ ngân hàng mới có con xe ni kiếm cơm đấy sếp ạ!”. Tay cảnh sát trả lời: “Cha con mày vay mượn, cắm sổ đỏ còn có cái xe, tao cũng vay mượn, cắm sổ đỏ mà chỉ có cái ni” – vừa nói vừa giơ cái dùi cui lên. Người cha đành kẹp thêm tờ giấy bạc nữa cho xong chuyện. Lên xe, người cha nói với con: “Tau tưởng tau đã lì mà hắn còn lì hơn!”.
            Làm giàu bất chính, để tạo cái vỏ bọc cho mình nhiều kẻ bỏ ra ít tiền làm từ thiện thì gọi là Mua Danh. Cái khác nhau của người làm từ thiện chân chính và Mua Danh là dù bỏ ra số tiền lớn đến bao nhiêu, vẫn giấu danh tính của mình.
            Trong cuộc sống, tôi gặp không ít người hễ giới thiệu người này với người khác, đều là bạn của mình, nhân cuộc nhậu hay gặp mặt gì đó thường gắn với chức tước: “anh T. hiệu trưởng…”, “Chú B. giám đốc..”, “còn anh X. là đại gia vật liệu xây dựng…”. Có lẽ người giới thiệu hãnh diện vì điều ấy lắm, vì mình quan hệ toàn những người có địa vị  trong xã hội. Đấy là biểu hiện của bệnh Háo Danh. Ai không biết, còn tôi “được” giới thiệu như thế cảm giác rất khó chịu. Gặp mặt lần đầu, nên khiêm nhường một chút. Chức Danh có là gì trong mối quan hệ được gọi là thân mật, bè bạn? Đối với kẻ Háo Danh cần cảnh giác vì họ có thể dựa hơi, mượn Danh người khác để trục lợi cho mình.
Háo Danh có quan hệ mật thiết với Hám Danh. Không ít kẻ đi xa có dịp nào đó về quê hương lại lòe chức này tước nọ. Nói ra xấu hổ, tôi có cậu học sinh tốt nghiệp Đại học KHXHNV, xin làm hợp đồng ở bộ phận hành chính trường Đại học B.D, sau đó mở trung tâm môi giới dạy ngoại ngữ, thế mà in cacvidit là tiến sĩ, “Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển ngôn ngữ quốc tế” (!) Thế nhưng vẫn nhiều người tin, lý giải chuyện này không khó: thứ nhất là thiếu thông tin, không ưa suy luận hoặc giả cũng có bệnh Háo Danh nên Hám Danh nó làm cho mờ mắt!  
            Thỉnh thoảng, trên các trang báo viết, báo mạng lại đưa tin vụ xì căng đan ca sĩ này, người mẫu nọ sex, lộ “hàng” khoe thân hay phát ngôn nhảm nhí. Họ làm như vậy là để tự “lăng xê” mình khi tài năng chưa được công chúng công nhận. Những việc làm như vậy gọi là Ô Danh. Chuyện Ô Danh thì thời đại nào cũng có, câu chuyện sau đây vừa xếp được trong tiêu chí Ô Danh lẫn Hám Danh, tự điển chưa có nên tạm gọi là Ác Danh vậy:
 Herostratos, một kẻ vô danh tiểu tốt đã tuyên bố sẽ làm cho tên tuổi hắn nổi danh thiên hạ. Ngày 21 tháng 7 năm 356 tr.CN, hắn đã đốt ngôi đền thờ Nữ thần săn bắn Artemis (ở Ephensus – phía tây Thổ Nhĩ Kỳ), một trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại. Đốt xong, hắn đầu thú và chờ được xét xử công khai. Quan tòa biết nếu đem xét xử công khai sẽ đúng với mong ước của hắn nên đã xét và xử tử hắn trong ngục tối. Thế nhưng một nhà viết sử đã ghi lại sự kiện đó nên tên tuổi hắn đúng thật đã tồn tại trong lịch sử loài người.
           Ngày xưa, nhiều người hiểu chữ DANH luôn gắn liền với chức tước, lợi lộc nên đã xa lánh nó bằng cách ở ẩn như Sào Phủ, Hứa Do, Đào Tiềm, Nguyễn Bỉnh Khiêm, La Sơn Phu Tử…Lánh đời xuất thế, giữ được tiết tháo của mình, nhưng nói gì đi nữa, đó là con đường tiêu cực. Lánh đời nhưng tên tuổi họ vẫn sáng cùng sử sách, hóa ra “mai danh ẩn tích” lại là một phương thức Quảng Danh?!
            Con người, già hay trẻ, nam hay nữ đều có một chữ DANH gắn liền với thân phận mình. Hiểu được chữ DANH nhưng sống sao cho đúng chữ DANH viết hoa cần có thêm TRÍ, DŨNG và luôn là sự phấn đấu không ngừng.