Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - MỘT TẤM LÒNG THA THIẾT VỚI ĐỜI CỦA NGUYỄN TUÂN



            Giới văn nghệ sĩ nó chung, nhà phê bình văn học nói riêng khi viết về Nguyễn Tuân đều dành cho ông những tán dương mà thành kính, say mê mà trăn trở. Bởi lẽ, vốn văn hóa sâu rộng, tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn dồn nén vào từng câu từng chữ trong tác phẩm khi đồ sộ như núi, khi lắng sâu như biển, khi ung dung như nước chảy mây trôi, thoắt ẩn thoắt hiện hương thơm gió thoảng. Nguyễn say cái đẹp nhưng đó phải là cái đẹp cứu rỗi tâm hồn con người đang phải sống trong đống cặn bã, trong xã hội hỗn loạn xô bồ.
          Đi qua “Vang bóng một thời”, chúng ta cảm ngộ rõ hơn tấm lòng tha thiết với đời của Nguyễn cùng với báu vật Chữ người tử tù.
          Cảm nhận trực giác làm người ta thích thú trước tiên là tình huống truyện. Rồi sau đó từng bước, từng bước kết cấu, chữ nghĩa, chi tiết, nhân vật, Nguyễn tẩm ướp gia vị văn hóa cộng với bí quyết nghệ thuật độc nhất vô nhị mê hoặc độc giả vị cay đắng của thời thế, xã hội; chua chát của số phận con người và ngọt bùi của tình tri âm tri kỉ.
          Về tình huống truyện, đã có rất nhiều bài viết sâu sắc đăng trên các báo, tạp chí, kỉ yếu hội thảo, nếu muốn, độc giả dễ dàng tìm kiếm. Tựu trung, cốt lõi vấn đề có thể cô đúc bằng một câu: Truyện xoay quanh một cuộc gặp gỡ oái oăm giữa những người thực chất là tri kỉ nhưng lại ở vị thế đối nghịch, đối địch nhau.
          Về mặt kết cấu, đây là truyện ngắn giàu tính kịch, kết thúc có hậu. Quản ngục có được chữ của Huấn Cao, người tử tù không “phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. “Phương tiện” mở nút thắt của tình huống chính là cái ĐẸP, mà đó là cái đẹp gắn liền với cái THIỆN.
          Khi chưa đọc Chữ người tử tù, dưới góc độ lí luận sáng tác truyên ngắn, tạo “phông” để cho nhân vật trung tâm xuất hiện chiếm khoảng 20% dung lượng tác phẩm, người ta đã cho rằng mất cân đối trong kết cấu. Nhưng ở đây, Nguyễn “mất” gần 40% dung lượng! Cụ thể truyện có 2665 chữ, Huấn Cao xuất hiện với câu nói: “Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải dỗ gông đi thôi” đã là 1064 chữ!
          Điều đặc biệt, với 1064 chữ ấy, Nguyễn vung bút “vẽ mây nẩy trăng”,  nhấn nhá những chi tiết đối lập, tô đậm nội tâm Quản ngục và kín đáo bày tỏ nỗi lòng mình.
          Ngày xưa, tướng lĩnh, quân sư giỏi “trên thông thiên văn dưới tường địa lí”. Nhìn sao để biết thời tiết hay vận mệnh con người. Khổng Minh đã khóc khi thấy chủ tinh Quan Công rơi; Tư Mã Ý mừng vui khi “ngôi sao to như cái đấu sa xuống trại Thục”. Nguyễn cũng đã xót thương Huấn Cao một cách thầm kín: “Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ làng xa đưa lại mấy tiếng chó sủa ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống chân giời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”.
          Nhiều ẩn ngữ thay hai từ “ngôi sao chính vị”! Huấn Cao là tên của ông Huấn thụ họ Cao. Ngày xưa, kính trọng người ta gọi nhau bằng chức tước, ví như “quan Trạng”, “cụ Nghè”, “cụ Cử” hay gắn thêm tên quê như “cụ Tam nguyên Yên Đổ”…Thứ đến, dùng họ để gọi kèm theo mĩ từ “tiên sinh”. Chỉ riêng đặt tên cho nhân vật, người đọc đã thấy được tâm ý Nguyễn.
          Chữ người tử tù nhân vật không nhiều: Huấn Cao, Quản ngục, thầy thơ lại, tên lính, bọn lính. Trừ Huấn Cao, tất cả tên nhân vật đều là phiếm chỉ. Phải chăng sử dụng thủ pháp này, chủ ý của Nguyễn tôn nền cho nhân vật trung tâm?
          Đối nghịch với Huấn Cao là “tên lính”, “bọn lính”; xem Huấn Cao là thần tượng là viên Quản ngục, thầy thơ lại. Huấn Cao không chút để tâm đến “tên lính”, “bọn lính”, coi thường, “khinh bạc đến điều” với Quản ngục:
          - Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.
          Thái độ ấy của Huấn Cao xuất phát từ định kiến, cứ quản ngục thì đều  tàn bạo, thị oai với tù nhân. Ông đâu ngờ Quản ngục này là “một thanh âm trong trẻo”. Nguyễn khéo léo chen vào những suy tư của Quản ngục với bình phẩm, thấu hiểu ngắn gọn: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.
Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâmđiền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với một lũ quay quắt”.
Hai đoạn văn ngắn ngủi với những cụm từ “lòng biết giá người”, “biết trọng người ngay”, “thanh âm trong trẻo”, “những cái thuần khiết” đủ khái quát “thiên lương” quản ngục. Với thiên lương ấy, mặc dù học vấn chỉ mới ở mức “đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, ông vẫn khao khát có được đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết, treo ở nhà riêng và xem đó là “báu vật trên đời”. Cái sở nguyện của viên quản ngục gắn liền với sinh mạng chính mình. Chế độ phong kiến không bao giờ dung thứ bất cứ ai yêu quí di vật của “phản nghịch”, cho dù đó chỉ là thú vui văn hóa!
          Truyện Chữ người tử tù ra đời khi chữ Hán đã đi vào thời mạt vận. Trước đó, khi “đất nước quê hương lộp cộp móng lừa tây, vó ngựa lai, giày đinh sắng đá, và đì đoành ca nông chấm câu cho những vần thơ yêu nước…”, Tú Xương thừng than thở: “Nào có ra gì cái chữ Nho/ Ông nghè ông cống cũng nằm co/ Phen này tớ quyết làm thông phán/ Sáng rượu sâm panh tối sữa bò”. Chữ Nho mai một như thế, sĩ tử quay sang học tiếng Pháp để vinh thân, Nguyễn lại đề cao thú chơi chữ Hán, phải chăng tâm nguyện muốn giữ mãi, nâng tầm vẻ đẹp văn hóa dân tộc? Rồi sau này, trong những ngày kháng chiến chống Mĩ ác liệt, Nguyễn lại say mê viết “Phở”, “Giò lụa” làm chảy nước miếng cả những người ngồi trên mâm pháo. Người ta thấy ở Nguyễn cái gì đó “ngược ngược”, lắm khi gán cho một chữ “ngông” mà đâu biết đằng sau cá tính “khoảnh” ấy là một tấm lòng tha thiết với đời.
Tha thiết với đời là làm cho đời đẹp hơn. Cái đẹp mà Nguyễn hướng đến bao giờ cũng phải tuyệt mĩ nhưng không xa lạ. Đọc Nguyễn, cho dù truyện ngắn đấy nhưng vẫn đậm chất tùy bút, nguyên mẫu Huấn Cao chắc chắn là Cao Bá Quát. Giữa Huấn Cao và Cao Bá Quát có rất nhiều điểm tương đồng về tài năng, tính cách. Cao Bá Quát “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, nên ngay cả câu giáo huấn trên bức bình phong điện Cần Chánh, vua Tự Đức nổi tiếng hay chữ, tâm đắc lắm cũng bị sổ toẹt. Khi dòng chữ “Tử năng thừa nghiệp phụ/ Thần khả báo quân ân” đập vào mắt, Cao Bá Quát liền lấy hòn son ghi: “Tốt hảo, tốt hảo! Cương thường điên đảo!”. Chuyện đến tai vua, Cao Bá Quát được triệu vào cung. Ông giải trình: “Con không được đứng trước cha, thần không được đứng trước vua”. Được lênh, Cao Bá Quát sửa lại, tạm dịch như sau:
                             Ơn vua, thần phải báo
                             Nghiệp cha, con phải theo.
Rất nhiều giai thoại về Cao Bá Quát không thể Nguyễn không biết.
 Có những chi tiết nhỏ chúng ta có thể lướt qua, có thể không nhận thấy nhưng vô cùng quan trọng trong tác phẩm. Đọc Nguyễn phải thật chậm rãi, suy ngẫm kĩ càng. Chẳng hạn, Huấn Cao cho Quản ngục chữ gì? Nguyễn không nói. Đó không phải là đôi câu đối, không phải bộ tứ bình, càng không phải là bức trung đường. Nguyễn chỉ nói đó là một bức châm. Đây chính là dụng ý của Nguyễn và nó logic với tài năng, tính cách nhân vật Huấn Cao.
Trước khi cho chữ Quản ngục, Huấn Cao chỉ viết hai bức tứ bình, một bức trung đường cho ba người bạn tri kỉ. Tranh chữ tứ bình có thể là “Ngư, Tiều, Canh, Mục” hoặc “Tùng, Cúc, Trúc, Mai” hay “Mai, Lan, Trúc, Cúc”…Tứ bình là những đề tài có sẵn, tùy sở thích của bạn mà viết tặng thôi. Riêng cho chữ bức trung đường lại khác. Bức trung đường được treo sau bàn thờ gia tiên hay nơi trang trọng nhất trong phòng khách. Bức trung đường thường chỉ ba, bốn chữ, thể hiện một tín niệm nào đó của chủ nhân, ví như: “Văn vũ trung hiếu”, “Kính như lai”, “Phúc Mãn đường”…Do vậy, những con chữ viết trên bức trung đường bao giờ cũng là lời ca tụng công đức, đề cao chí hướng hay ghi lại lời giáo huấn tổ tiên. Tự mình cho chữ, viết bức trung đường là khấu đầu trước một dòng họ. Một con người nổi tiếng như Huấn Cao, cúi đầu trước dòng họ bạn thì dòng họ đó phải nổi tiếng tài hoa, đức độ lắm lắm.
Như vậy, Huấn Cao cho chữ không nhiều, tuyệt nhiên không bao giờ ép mình viết câu đối cho dù vàng bạc hay quyền thế. Với sở nguyện của Quản ngục có được đôi câu đối của Huấn Cao lại càng không thể. Huấn Cao cho chữ nhưng nhất định không phải là câu đối, Nguyễn không nói nhưng theo logic, có thể lí giải như sau.
Thứ nhất, câu đối treo trong nhà dùng để ca ngợi đức độ, tài năng dòng họ hay chí khí, hoài bão của gia chủ. Người tặng câu đối phải hiểu tài năng, đức độ của người được tặng. Ở đây, Huấn Cao mới chỉ biết Quản ngục có thú chơi chữ, “biết giá người”, chừng ấy là chưa đủ.
Sinh thời, Huấn Cao chưa viết câu đối cho ai bao giờ. Nguyên mẫu Huấn Cao – Cao Bá Quát cũng vậy, lúc làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai, ông có viết đôi câu đối, tự nhạo, hài hước:
-         Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
-         Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.
Thứ hai, tặng câu đối cũng là khích lệ, gửi gắm niềm tin cho người được tặng. Viên quản ngục “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự…”, trên dưới năm mươi rồi, độ tuổi “tri thiên mệnh” rồi, “sự nghiệp” như vậy rồi, thử hỏi nên được tăng đôi câu đối gì đây? Nguyễn rất khéo khi giới thiệu quản ngục mới “Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, cho nên mới “sở nguyện” đôi câu đối chính tay Huấn Cao viết không có gì phải chê trách.
Phù hợp với Quản ngục, Huấn Cao viết bức châm. Về cách treo bức châm cũng giống như treo bức trung đường. Bức châm có thể là một bài thơ ngắn hàm ý sâu xa, tỷ như Xuân hiểu của Mạnh Hạo Nhiên, Cáo tật thị chúng của Mãn Giác thiền sư, Thượng sơn của Hồ Chí Minh…hay là lời khuyên của cổ nhân về đạo đức phẩm hạnh, Huấn Cao vừa để “không phụ một tấm lòng trong thiên hạ”, phù hợp với con người Quản ngục, lại vừa giữ được nguyên tắc sống của chính mình.
Quản ngục xin đôi câu đối, được bức châm nhưng không vì thế mà thất vọng, trái lại, ông hiểu ra sau lời khuyên của Huấn Cao, câu nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” là lời khắc cốt ghi tâm chắc chắn  biến thành hành động.
Chữ người tử tù là một khối ngọc bích không tì vết. Tất cả các chi tiết, chữ nghĩa bổ sung, gắn kết logic, chặt chẽ. Để làm nổi bật cái tài viết chữ nhanh và đẹp của Huấn Cao, Nguyễn đã sử dụng thủ pháp “tá khách hình chủ”. Đó là lời thán phục lan truyền trong dân gian. Chữ đẹp không thiếu gì người viết được, song cho có hồn, mạnh mẽ, khoáng đạt thì được mấy người? Đời Đường cả ngàn nhà thơ nổi tiếng chỉ có “trên dưới chục người thành danh từ thư pháp”. Cái khoáng đạt, mạnh mẽ trong từng nét bút Huấn Cao được Nguyễn cài đặt bổ sung bằng các chi tiết: “Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa không”; hay hành động dỗ cái gông nặng bảy, tám tạ…Rồi ngay cả Quản ngục cũng ý thức được: “Y cũng thừa hiểu những người chọc trời khuấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng chẳng có biết ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”.
Bấy nhiêu thôi cũng đã rõ cái ý chí tự do, không chịu sống trong xã hội tù túng chật hẹp. Đọc những dòng Nguyễn miêu tả suy nghĩ của quản ngục, bất giác hình tượng Từ Hải hiển hiện trước mặt:
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
                                                               (Kiều – Nguyễn Du)
Chỉ có những người có sức khỏe, tài năng, tâm hồn phóng khoáng mới phóng được những con chữ “nhanh và đẹp”, để chúng trở thành “báu vật trên đời”.
Khắc họa Huấn Cao chỉ bằng mấy câu nói, vài cử chỉ mà vẫn lồng lộng một con người hiên ngang lẫm liệt, ung dung làm chủ ngục tù, lung linh vẻ đẹp thiên lương, minh chứng cho tài năng xây dựng nhân vật của Nguyễn.
Phải chăng thành công của Chữ người tử tù là sự cộng hưởng cái tâm, cái tài giữa nhân vật, nguyên mẫu nhân vật và tác giả?
Mặt khác, hấp dẫn của truyện không thể không nói đến cái tài sắp xếp các chi tiết đối lập, tương phản. Đó là đối lập giữa sở nguyện của Quản ngục với “khinh bạc đến điều” của Huấn Cao. Đối lập ngay trong cảnh cho chữ mà “xưa nay chưa từng thấy”. Người ta cho chữ khi tâm trạng thư thái, có rượu, có hoa nâng thêm cảm hứng, có mùi hương trầm gợi không khí trầm mặc, thanh tao…Còn đây, người đang phóng những con chữ “vuông lắm, đẹp lắm”, cổ lại mang gông, chân vướng xiềng trong gian buồng giam chật hẹp, ẩm ướt đầy phân chuột, phân gián. Rồi những hình ảnh tương phản giữa ánh sáng ngọn đuốc và bóng đêm, mùi mực thơm, tấm lụa trắng tinh với nền đất ẩm, tường đầy mạng nhện tô đậm ý nghĩa hiện thực và gợi cho người đọc liên tưởng mang tính biểu tượng sâu xa.
Một thành công khác của truyện không thể không nói đến là cách sử dụng từ ngữ. Trong truyện, hai lần Nguyễn dùng chữ “trời”, một lần dùng chữ “giời”. Chữ “giời” là tiếng địa phương của Nguyễn. Đây chắc chắn không phải là sự nhầm lẫn của tác giả hay của nhà in. Nhà văn chỉ sử dụng từ địa phương khi miêu tả văn hóa vùng miền, xây dựng nhân vật hay thể hiện tình cảm của mình. Ở đây,  cách dùng chữ “giời” thuộc khía cạnh thứ ba.
Để tạo không khí cổ xưa của truyện, Nguyễn chọn từ “phiến trát” thay cho “công văn”, “kiểng” thay cho “kẻng”, “thằng thập” thay cho “đội trưởng”…khéo léo dùng từ Hán – Việt: “tập bản đóng dấu son ti Niết”, bộ mặt tư lự, hay những ngữ gợi cảm hoặc tượng hình: “nền trời lấm tấm tinh tú”, “tiếng dội chó sủa ma”, “một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”…
Từ chọn tình huống, kết cấu truyện, xây dựng nhân vật cho đến cách kể, cách dùng từ ngữ… Nguyễn rất thành công trong thông điệp gửi tới độc giả, đó là cái đẹp phải gắn liền với cái thiện, cái đẹp có thể nảy sinh trong cái xấu, môi trường xấu nhưng không bao giờ chung sống với cái xấu. Cái đẹp có sức mạnh cảm hóa, cái đẹp là bất tử. Huấn Cao nhận cái chết về thân xác nhưng tư tưởng, cảm xúc về cái đẹp là bất tử.
Quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn hướng tới cái khác thường, cái phi thường: đẹp phải ở mức tuyệt mĩ, tài phải ở mức siêu phàm. Cái tuyệt mĩ, siêu phàm không phải thần thánh hóa, nó gắn chặt với đời thường, bởi Nguyễn biết “khơi mạch nguồn chưa ai khơi”, chắt lọc “thanh âm trong trẻo” trong bản đàn cuộc đời mà “nhạc luật hỗn loạn xô bồ”. Nguyễn tha thiết với đời, cổ vũ cho suộc đời tốt đẹp hơn -  dù ở thời khắc lịch sử nào – cũng đều bằng những trang viết tài hoa và trách nhiệm của người nghệ sĩ.
                                                                               Mùa hè 2018
                                                                     

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

MÀU SẮC, ÁNH SÁNG TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô Hà Nội. Cảm hứng từ buổi chia tay lịch sử ấy, Tố Hữu đã viết nên bài thơ Việt Bắc. Bài thơ thành công về nhiều mặt, xứng đáng là đỉnh cao thơ Tố Hữu nói riêng, thơ ca chống Pháp nói chung. Rất nhiều bài nghiên cứu, phân tích, bình giảng… của các học giả, giảng viên, nhà thơ, nhà văn trong ngoài nước đã minh chứng điều đó. Ở bài viết nhỏ này chỉ đề cập tới cách thức dùng màu sắc, ánh sáng trong bài thơ Việt Bắc với mong muốn góp phần làm rõ thêm nét độc đáo phong cách thơ Tố Hữu.
Thơ Tố Hữu luôn đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, có tính chất toàn dân, những sự kiện chính trị lớn của đất nước. Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào tha thiết như “giọng mẹ ru tháng ngày”. Cách dùng từ, diễn đạt gần gũi, thân thuộc với nhân dân vì tác giả vận dụng thuần thục thể thơ truyền thống dân tộc, phát huy cao độ tính nhạc rất phong phú của tiếng Việt. Bên cạnh yếu tố trên, nhà thơ rất có ý thức trong việc sử dụng ánh sáng, màu sắc, làm cho nó lung linh hơn trong cảm nhận của người đọc.
Bài thơ Việt Bắc có 150 câu viết theo thể lục bát. Cấu tạo bài thơ theo lối đối đáp thường gặp trong văn học dân gian. Đối đáp giữa người ở và người đi, người ở lại là đồng bào Việt Bắc, người đi là cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Thành công trước tiên của bài thơ này tác giả đã “phân thân”, đặt mình vào suy nghĩ, tâm tưởng của người ở lại, nói hộ tấm lòng họ để rồi từ đó thổ lộ tâm ý của mình. Hai câu thơ lục bát đầu tiên trong bài thơ có sử dụng màu sắc là câu hỏi của người ở lại với người đi:
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son
Câu bát sử dụng tiểu đối: Hắt hiu lau xám / đậm đà lòng son. “Hắt hiu” là tính từ chỉ cảm giác cái sắp tàn, chẳng hạn: “Ngọn đèn dầu hiu hắt giữa đêm khuya”, “Gió may hiu hắt”. “Hiu hắt” gợi nỗi buồn kết hợp với “lau xám” càng thêm ảm đạm. Người ở lại dùng “hắt hiu lau xám” để chỉ cái nghèo không thể nghèo hơn của đồng bào Việt Bắc. Nhưng đối lập với cái nghèo ấy là tấm lòng kiên trung, nghĩa tình với cách mạng: “đậm đà lòng son”. Vế sau của câu tỏa sáng, gợi cho người đọc niềm lạc quan tin tưởng. Không hiểu sao, hai chữ “lòng son” ở đây cứ gợi lên liên tưởng câu thơ của Văn Thiên Tường:
Người đời tự cổ ai không chết
Lưu lại lòng son với sử xanh.
                   (Quá Linh Đinh dương)
Hiểu lòng người ở lại, người ra đi không ngần ngại thổ lộ tình cảm của mình. Một tình cảm yêu thương thắm thiết với ánh trăng dìu dịu trong không gian mênh mông, không phải tình yêu đôi lứa mà như tình cảm lứa đôi:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương.
Không chỉ cảm nhận ánh sáng đẹp của “trăng lên đầu núi, bóng chiều lưng nương”, người ra đi còn thấu hiểu nỗi gian lao, khổ cực của những người mẹ, những em bé trong cái nắng như thiêu như đốt:
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Ban ngày vất vả, gian lao với ánh sáng đáng ghét ấy thì ban đêm người Việt Bắc vui với ánh sáng trí tuệ, ánh sáng lạc quan:
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan.
Nhớ là biểu hiện của yêu thương. Tình cảm kẻ ở người đi được dựng xây trong khó khăn gian khổ suốt mười lăm năm ròng: “Thương nhau chia củ sắn lùi / Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”. Người đi đã xem Việt Bắc là quê hương thứ hai. Bởi vậy, khi chia tay người đi nhớ người, nhớ cảnh, nhớ mùa, nhớ năm:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.
Bức tranh tứ bình với bốn mùa đông, xuân, hạ, thu thật đẹp. Có người cố lý giải vì sao mùa không theo một thứ tự tuần hoàn thiên nhiên? Có cần phải chi tiết, kĩ càng thế không khi nỗi nhớ con người không theo qui luật nào cả.
Tố Hữu tinh trong quan sát, nhạy trong nắm bắt tư thế, thần thái:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Rừng xanh làm nền cho màu đỏ của hoa chuối, con đèo cao uốn lượn giữa hai màu xanh đỏ ấy vừa lóe lên phản quang của “dao gài thắt lưng”. “Dao gài thắt lưng” là hoán dụ, lấy phản quang của công cụ lao động để chỉ người còn gì độc đáo hơn. Tư thế của con người đang tư thế đi lên – “ta lên đến đỉnh ta cao hơn đèo”. Trong thơ Tố Hữu, tư thế đi lên luôn chứa đựng ý chí làm chủ, tự tin, lạc quan, khát vọng, chẳng hạn:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.
                           (Lên Tây bắc)
Hay:
Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng
Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau
Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu.
                             (Bài ca mùa xuân 61)
Dưới con mắt Tố Hữu, Việt Bắc mùa nào cũng đẹp, cũng ngập tràn màu sắc, trào dâng sức sống. Mùa xuân thì mơ nở trắng rừng, mùa hạ rừng phách đổ vàng…Mùa gắn với con người, với giới tính, tâm thế khác nhau. Mùa đông với hình ảnh con người chinh phục, mùa xuân với con người – nghệ nhân, mùa hạ rực rỡ với cô em gái tràn trề sức sống. Và mùa thu, mùa xúc cảm sáng tác của văn nghệ sĩ lại gắn liền với ánh sáng, tâm hồn người Việt Bắc. Ánh trăng thu rọi hòa bình trong không gian tiếng hát ân tình thủy chung cho chúng ta cảm giác êm đềm, ấm áp. Từ “hòa bình” dùng trong câu thơ là tính từ, vậy nên hiểu ánh trăng rọi lên núi rừng (có sẵn) hòa bình hay ánh trăng thấy hòa bình? Trả lời cho câu hỏi này, ngẫm kĩ, tác giả đã khéo léo gửi gắm ở câu tiếp theo: “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”. Thì ra tâm hồn, mong muốn của nhân dân Việt Bắc nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung đang cháy bùng khát khao mà ánh trăng đang soi rọi đó.
Đối với quân thù, Việt Bắc là lũy thép, mồ chôn quân cướp nước, trong mắt chúng chỉ có một màu tối tăm, ảm đạm, bởi vì:
Núi giăng thành lũy sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Rồi Việt Bắc ngày càng lớn mạnh, thủ đô gió ngàn có đêm nhưng không có bóng tối. Tố Hữu đã sử dụng nghệ thuật điện ảnh để ghi lại khung cảnh ấy với sự phối kết ánh sáng diệu kì:
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Lại một lần nữa Tố Hữu nhận ra phản quang đầu nòng súng trong đêm, nó lóe lên dưới ánh sáng của đuốc, của đèn pha theo nhịp bước người lính. Bên vành mũ nan có ngôi sao đầu súng. Một hình ảnh đẹp, lãng mạn lại mang hàm ý sâu xa. Muôn tàn lửa bay của đoàn dân công với sức mạnh “bước chân nát đá” như vẽ nên hình ảnh con rồng lửa đang bay…Ánh sáng đèn pha xuyên thấu nghìn năm “thăm thẳm đêm dày” bừng sáng “như ngày mai lên” là một ẩn dụ đẹp, độc đáo nhuần nhị tinh thần lạc quan cách mạng của tác giả.
Một điều rất đặc biệt trong sự “phân thân” để bày tỏ nỗi niềm của tác giả, Tố Hữu - một trong bao nhiêu người đi, lại “đồng thanh” cùng người ở lại:
Ai về ai có nhớ không
Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang
Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công.
Đại từ “ai” mang tính phiếm chỉ rộng hơn “mình”, “ta”. Câu hỏi tu từ nhấn mạnh với người về: Việt Bắc - “thủ đô” của cuộc kháng chiến. Điều kiện sống khó khăn nhưng tinh thần cách mạng bao trùm cả không gian, thời gian địa bàn cơ quan Trung ương. Tác giả dùng tính từ mạnh: “đỏ thắm”, “rực rỡ” định ngữ cho cờ đỏ sao vàng – biểu tượng lý tưởng, ý chí, khát vọng toàn dân tộc. Chính vì vậy, Việt Bắc trở thành niềm tin, phương hướng  cho những vùng đất còn dưới gót giày quân cướp nước;
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi.
Viết về Bác, bao giờ Tố Hữu cũng lựa chọn cách diễn đạt đậm tính nhân dân với những từ ngữ giản dị nhưng làm nổi bật được thần thái, phong cách của Người, tài năng ấy không phải nhà thơ nào cũng có được:
Mình về với Bác đường xuôi
Thưa rằng Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo.
Bằng những nét chấm phá theo trường phái hội họa phương Đông, Tố Hữu đã dựng lên một bức tranh giàu chất nhạc, trữ tình, sức gợi tả lớn bởi màu sắc trong trẻo, tinh khiết, chân thực gần gũi với cuộc sống: hình ảnh, phong thái Người rất mực giản dị, ung dung thanh thoát. Nghệ thuật miêu tả không chỉ thể hiện tấm lòng, cách suy nghĩ của đồng bào miền núi mà rất phù hợp với tâm hồn, phong cách Bác. Đây là một trong những đoạn hay nhất của bài thơ.
Cuộc chia tay đầy lưu luyến như cái bản lề mở ra chân trời mới cho cuộc sống mới, ấm no, hạnh phúc, gắn kết miền xuôi với miền ngược. Sản vật người miền ngược gửi về xuôi thật thiết thực với bối cảnh lịch sử thời bấy giờ:
Mình về ta gửi về quê
Thuyền nâu trâu mộng với bè nứa mai
Nâu này nhuộm áo không phai
Cho lòng thêm đậm cho ai nhớ mình
Trâu về, xanh lại Thái Bình
Nứa mai gài chặt mối tình ngược xuôi.
Địa danh Thái Bình được tác giả nhắc đến 3 lần trong bài thơ. Ngoài trích đoạn trên còn có:
Thái Bình đồng lại tươi xanh
Phên nhà lại ấm, mái đình lại vui…
Tản mạn một chút, tác giả dùng 3 từ “lại” đều gắn với địa danh, màu sắc. Ở một bài thơ khác – “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, Tố Hữu cũng viết như vậy:
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam
Hoa mơ lại trắng vườn cam lại vàng.
Hai câu thơ lục bát có đến 5 màu! Một sự kết hợp tài tình, độc đáo.
Màu xanh, màu của hi vọng, thái bình là yên ổn không có loạn lạc chiến tranh. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Thái Bình - một trong những tỉnh có người chết đói nhiều nhất vì phát xít Nhật bắt dân nhổ lúa trồng đay phục vụ cho chiến tranh của chúng. Hai lần nhắc đến Thái Bình (địa danh – danh từ) gắn với màu xanh (hi vọng) gợi cho người đọc liên hệ thú vị về tính từ của nó. Phải chăng lòng người gặp ý trời khi cả hai chiến sĩ phất cờ trên nóc hầm Đờ Ca-xtơ-ri ở chiến dịch Điện Biên Phủ, treo cờ trên Dinh Độc lập đều  người Thái Bình?
“Nước chảy đá mòn”, đó là sự bào mòn vật chất qua thời gian. Liệu dòng chảy thời gian ấy có làm phai nhạt tình nghĩa người đi? Hiểu nỗi trăn trở, nhớ thương của người ở lại, thay mặt cho những người đi, nhà thơ tuyên thệ:
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhòa.
Mộc mạc, đậm tính nhân dân, giàu màu sắc, ánh sáng! Màu sắc, ánh sáng ấy góp phần khẳng định sự thủy chung của người ra đi.

Nhịp điệu êm ái, giọng thơ tâm tình, diễn đạt quen thuộc với cách cảm cách nghĩ quần chúng; điêu luyện, sáng tạo trong sử dụng màu sắc, ánh sáng, từ khi mới ra đời Việt Bắc đã làm rung động biết bao trái tim, biết bao thế hệ. Bốn mươi câu trong bài thơ có sử dụng màu sắc, ánh sáng là một tỷ lệ lớn, rất hiếm gặp. Ánh sáng, màu sắc làm cho Việt Bắc không bóng tối, chắc chắn có dụng ý của tác giả. Tài năng sử dụng màu sắc, ánh sáng làm nên một Việt Bắc lung linh trong đời thơ Tố Hữu, mãi mãi phấn chấn, rạng rỡ tinh thần người đọc. .

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2016

ĐÒ LÈN - KÍ ỨC TUỔI THƠ QUÊ NGOẠI CỦA NGUYỄN DUY


ĐÒ LÈN

          Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
          bắt chim sẻ trên vành tai tượng Phật
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

          Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
          chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
          mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
          điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
          bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
          bà đi gánh chè xanh Ba Trại
          Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

          Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
          giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
          cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
          cứ nghe mùi huệ trắng hương trầm

          Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất
          đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
          thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
          bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

          Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
          dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
          khi tôi biết thương bà thì đã muộn
          bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
                                                      9 – 1983

Nguyễn Duy thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Độc giả say thơ anh bởi cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, sử dụng ngôn từ mộc mạc mà rất đỗi tinh tế, tài hoa; trầm tĩnh mà ngang tàng đậm chất lính; cảm xúc và suy tưởng luôn song hành, nhuần nhuyễn, hết sức tự nhiên trong từng câu chữ. Những điều ấy làm nên phong cách Nguyễn Duy mà Đò Lèn là một trong những bài thơ tiêu biểu.
          Bài thơ như một dòng chảy hồi ức từ lúc nhỏ dại đến lúc trưởng thành trong tâm tưởng tác giả. Xuyên suốt dòng chảy ấy là hình ảnh bà ngoại gắn liền với những địa danh ở quê hương cùng với những biến cố lịch sử.
          Về mặt hình thức, bài thơ có 6 khổ, một dấu chấm câu cuối bài thơ, chữ đầu mỗi khổ thơ viết hoa, chữ đầu mỗi dòng thơ viết thường, chắc chắn đây là dụng tâm của tác giả. Mỗi khổ thơ một mẩu chuyện, những mẩu chuyện ấy kết nối với nhau chặt chẽ trong quỹ đạo Đò Lèn.
          Hai khổ thơ đầu, Nguyễn Duy kể chuyện sinh hoạt thuở nhỏ và những ấn tượng lưu lại trong kí ức:
          Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
          bắt chim sẻ trên vành tai tượng Phật
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

          Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
          chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
          mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
          điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
          Những câu thơ giàu hình tượng gợi lên trước mắt người đọc một cậu bé nghịch ngợm, vô tư, hồn nhiên. Câu cá, bắt chim, đá gà, chọi dế là thú vui của những đứa trẻ nông thôn cái thời chưa có máy tính nối mạng internet. Vui hơn là lập được “chiến công” để kể với bạn bè khi hái trộm được trái cây ở vườn nhà nào đó. Câu Thơ:
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Nguyễn Duy viết chân thực quá. Hầu như trẻ con ở nông thôn thời bấy giờ là thế cả. Cái tâm lý hồi hộp, lo sợ người lớn bắt gặp giống như trò chơi mạo hiểm, sợ mà vẫn thích chơi. Người viết bài này đã từng nếm trải điều đó nên hiểu được điều tác giả kể. “Anh hùng” là thế nhưng khi bước ra khỏi làng:
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Cái không gian làng quê ngày xưa hạn chế rất nhiều việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài, do đó đi xa một chút là lo sợ, mà với trẻ con thì sợ nhất là lạc đường. Chi tiết “níu váy bà” cho chúng ta biết khoảng độ tuổi tác giả lúc bấy giờ.
          Hai khổ thơ tiếp theo là những suy tưởng của Nguyễn Duy về hình ảnh người bà. Đây là suy tưởng khi tác giả viết bài thơ này chứ không phải là suy tưởng ở cái thời trẻ con ấy. Ngày bà mò cua bắt ốc, buôn bán chè xanh lúc khuya lúc sớm dưới giá buốt mùa đông năm đói ấy, tác giả vẫn vô tư, hồn nhiên, anh thú thực:
          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
          bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
          bà đi gánh chè xanh Ba Trại
          Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
          Không một ai, tài thơ đến mấy có thể thay thế “thập thững những đêm hàn” mà giữ được nguyên giá trị nghệ thuật, giá trị biểu cảm của khổ thơ. Từ láy “thập thững” là sáng tạo hết sức độc đáo của nhà thơ nên dù tra từ điển nào cũng không tìm được. “Thập thững” là cách kết hợp của các từ láy “chập chững”, “thập phương”, “thập thò” trên cơ sở chọn lọc ngữ nghĩa phù hợp với văn cảnh. “Thập phương” tương ứng với những địa danh đồng Quan, Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao…”thập thò” là lúc thấy lúc khuất, “Chập chững” là bước đi không vững. Hình ảnh người bà gánh chè xanh bước thấp bước cao trong đêm giá buốt, nghĩ lại mới thương xót làm sao!
          Tảo tần, cơ cực làm đủ mọi việc, bà cháu nuôi nhau đói vẫn đói. Điểm tựa tinh thần của bà là tiên, Phật, thánh, thần, còn điểm tựa của cháu chính là người bà tần tảo. Nhớ lại thuở ấy, Nguyễn Duy viết:
          Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
          giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
          cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
          cứ nghe mùi huệ trắng hương trầm
          Tin vào bà là thực, tin theo niềm tin của bà còn mơ hồ, chưa rõ nét lắm. Tiên, Phật, thánh, thần đâu không thấy, chỉ “nghe mùi huệ trắng hương trầm”. Giữa hai bờ thực - hư đó, “củ giong riềng luộc sượng” vẫn là bữa cơm năm đói. Thời đói, ăn cái gì cũng ngon, “củ giong riềng luộc sượng” mà “cứ thơm mùi huệ trắng hương trầm” khác nào giờ đây thưởng thức món ăn đặc sản của đầu bếp trứ danh khách sạn 5 sao chế biến.
          Về thủ pháp nghệ thuật, tài hoa sử dụng phép đối trong khổ thơ rõ ràng, chuẩn mực, cân xứng:
                                                   thực
                                                    bà
                củ giong riềng luộc sương

hư
tiên, Phật, thánh, thần
mùi huệ trắng hương trầm
          Khổ thơ thứ 5, tác giả tiết chế cảm xúc của mình để kể về một biến cố lịch sử: Mĩ ném bom miền Bắc. Có độc giả nói với chúng tôi sao trước nỗi đau mất mát đó mà tác giả kể một cách dửng dưng? Nếm trải những năm tháng hứng chịu mưa bom bão đạn Mĩ hồi đó mới hiểu vì sao tác giả viết như vậy. Mĩ đã từng tuyên bố hủy diệt, đưa miền Bắc trở lại thời kì đồ đá. Nhiều thành phố không còn một viên gạch nguyên vẹn, nhiều làng quê bị xóa sổ. Bệnh viện, trường học, chùa chiền…không nơi nào tránh khỏi bom đạn, thế nên, hồi tưởng về giai đoạn ấy tác giả cố nén cảm xúc chủ quan để làm nổi bật hiện thực khách quan.
          Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất
          đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
          thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
          bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
          Chữ “tuốt” có thể thay bằng chữ “tất”, lượng thông tin không thay đổi nhưng kém đi giá trị biểu cảm. Những nơi thờ tự, nơi con người gửi gắm niềm tin vào thế giới tâm linh còn bị bom Mĩ giội thì nhà bà ngoại tác giả bay mất cũng có là gì?
          Nơi tới lui với thế giới tâm linh không còn mà cuộc sống vẫn phải tiếp tục. Cũng là “đi” nhưng “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” – tránh bom đạn Mĩ chăng? còn bà với mưu sinh: “đi bán trứng ở ga Lèn”. Đằng sau những câu từ pha chút hài hước ấy là tình cảm thương xót vô hạn. Trước kia bà chân trần gánh nặng, “thập thững những đêm hàn” có vấp một cái đau buốt đến xương vẫn còn hai chữ bình an thì nay “bán trứng ở ga Lèn” mười phần mạo hiểm với tính mạng. Ga tàu là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mĩ.
          Khổ cuối bài thơ tác giả bộc bạch tình cảm của mình với bà trong tiếc thương, hối hận. Cảnh quê ngoại vẫn như xưa nhưng bà đã ra đi mãi mãi. Hai câu kết là lời tâm sự rất chân thành, người đọc nghe như nước mắt đang chảy vào trong:
          khi tôi biết thương bà thì đã muộn
          bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
          Đọc lại lần nữa, chúng ta tự hỏi tại sao Nguyễn Duy không dùng “Hồi ức tuổi thơ”, “Quê ngoại yêu thương”…đặt tên cho bài thơ mà lại dùng Đò Lèn – một địa danh? Trong kí ức của anh phải chăng ga Lèn là nơi bà chịu cơ cực, nguy hiểm nhất? Và đó cũng là cái tên bình dị, một chứng tích đau thương của chiến tranh, nghèo đói một thời khi ta nghĩ về nó? Những câu chữ bình dị hiển hiện trước mắt ta chất chứa đằng sau những tầng bậc xúc cảm, muốn lên được tới đỉnh phải nắm được tay vịn suy tư, đồng cảm, yêu thương mà tác giả đã san sẻ
         Với Đò Lèn, Nguyễn Duy đã đóng góp khối đá quí trong lâu đài văn học nước nhà. Càng ngắm, người đọc càng thấy lấp lánh ánh sắc Việt, thoang thoảng mùi huệ trắng, hương trầm.

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2015

CHÍ PHÈO - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

          
             Năm 1941, kiệt tác Đôi lứa xứng đôi được nhà xuất bản Đời mới – Hà Nội in ra sách lần đầu. Từ ấy, cái tên Chí Phèo bước ra cuộc sống, sánh ngang với Sở Khanh, Chúa Chổm trước kia, những Xuân tóc đỏ, bà Phó Đoan…đương thời, trở thành một điển hình văn học.
            Năm 1946, Hội Văn hóa cứu quốc in lại, đặt tên Chí Phèo, cái tên ấy tồn tại trong những lần tái bản sau. Nhan đề truyện có thay đổi nhưng những giá trị hiện thực, nhân đạo sâu sắc , mới mẻ trường tồn mãi mãi. Góp phần làm nên những giá trị ấy là tài năng nghệ thuật dựng truyện, dẫn truyện, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của nhà văn Nam Cao. Điều đó, người đọc dễ dàng nhận thấy ở nhân vật trung tâm truyện – nhìn từ phương diện nghệ thuật.

            Thông thường, các nhà văn cho nhân vật xuất hiện sau “cái phông” dựng sẵn. Cách viết ấy giúp độc giả có tâm thế đón nhận sâu sắc hơn thông điệp tác giả gửi gắm qua nhân vật. Đặc sắc về nghệ thuật, ở truyện ngắn này, Nam Cao cho Chí Phèo xuất hiện một cách trần trụi, ô trọc: “Hắn vừa đi vừa chửi”
            Rồi tác giả vừa ghi lại đầy đủ những câu chửi của Chí Phèo vừa hóa thân vào dân làng Vũ Đại (nguyên mẫu là làng Đại Hoàng của Nam Cao) lý giải những câu chửi đó. Nam Cao có dừng lại ở đó không? Người đọc có bằng lòng với những lý giải đó không? Suy ngẫm vấn đề này mới thấy ẩn ý sâu xa của tác giả.
            Nói đến trời là nói tới đấng quyền uy tối cao, trong đó có việc ban phát “mệnh” cho mỗi con người:
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
                                                                   (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Mệnh của Chí Phèo bất hạnh nhất trong những con người bất hạnh: bị bỏ rơi lúc mới lọt lòng, được đem cho, bán, sống kiếp nô lệ rồi ở tù…Người ta chỉ sợ trời khi có ràng buộc về trách nhiệm, lễ nghĩa, vật chất với những cái mệnh khác. Độc mệnh như Chí Phèo hỏi còn gì phải sợ? Điều Nam Cao gửi gắm với người đọc: Chí Phèo cô độc ngay từ khi lọt lòng mẹ.
            Đời là các mối quan hệ xã hội, cụ thể hóa cái “mệnh” của trời là giới tính, thân phận, địa vị, nghề nghiệp… trong xã hội. Khó xác định chính xác thân phận, địa vị, nghề nghiệp của Chí Phèo. Có chăng, về nghề nghiệp: “rạch mặt ăn vạ” – một nghề mới, theo lời của bà cô thị Nở - người có dòng mả hủi!
            Người lầm than cơ cực thường than thân trách phận, Chí Phèo chửi “mệnh”, chửi “phận’vì đời Chí lầm than cơ cực hơn những người lầm than cơ cực!
            Con người ai cũng có quê hương nhưng Chí Phèo thì không, chỉ có nơi hắn được sinh ra: cái lò gạch cũ ở làng Vũ Đại mà thôi! Vậy nên, dù chửi cả làng, nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “chắc nó trừ mình ra!”. Không quê hương nói chi đến bạn bè? Bởi thế, Chí Phèo tìm mối quan hệ khác với cộng đồng: “Hắn chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn! Không ai lên tiếng cả”. Vậy kẻ thù cũng không có nốt! Hắn chửi “đứa chết mẹ nào đẻ ra hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này?” hi vọng tìm ra manh mối gì đó về gia đình, nhưng “Có trời mà biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết!”.
            Đằng sau tiếng chửi của Chí Phèo là một nỗi khát khao được thừa nhận con người đúng nghĩa. Hắn không có họ, chỉ một cái tên Chí Phèo không biết ai đặt cho nữa. Chí Phèo càng tìm cách bấu víu càng bị làng Vũ Đại (rộng ra là xã hội) đẩy ra xa. Hắn sống cô độc, không quê hương, gia đình, bạn bè nên dễ bị kẻ khác lợi dụng, hành động mù quáng. “Hắn biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tác oại tác quái, đạp đổ bao nhiêu cơ nghiệp, đập phá bao cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc…” Những hành động mù quáng đó chỉ xảy ra khi hắn đang say, hại mình (rạch mặt) để hại người (ăn vạ). Không say, Chí Phèo không thể làm điều ác. Không say, Chí Phèo là con người lương thiện, có lúc gần như thánh thiện, được Nam Cao đặc tả khi hắn bóp đùi cho bà ba – vợ lý Kiến, khi hắn nghe người ta trò chuyện sau cơn say ăn nằm với thị Nở.
            Xây dựng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao không đặt trên cái trục tuyến tính thời gian nhưng người đọc dễ dàng phân chia các cột mốc sự kiện cuộc đời hắn: từ lúc lọt lòng đến khi làm canh điền cho lí Kiến; đi ở tù rồi trở về làng tác oai tác quái; cuối cùng gặp thị Nở cho đến khi vung dao đâm bá Kiến rồi tự sát.
            Quãng đời đầu của Chí Phèo, Nam Cao kể như những thước phim lướt nhanh, điểm nhấn là cảnh bóp đùi cho bà ba. Trường đoạn ấy tái hiện ở giai đoạn cuối cuộc đời Chí, khi hắn đã “yêu” thị Nở: “Hắn nhớ đến bà ba, cái con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại cứ bóp lên trên, trên nữa. Nó chỉ nghĩ đến sao cho thỏa nó chứ có yêu hắn đâu. Hồi đó hắn hai mươi. Hai mươi tuổi người ta không là đá, nhưng cũng không hoàn toàn xác thịt. người ta không thích cái gì người ta khinh. Vả lại bị một con đàn bà gọi đến mà bóp chân! Hắn thấy nhục hơn là thích, huống hồ lại sợ. Quả thật, từ khi biết rằng con vợ chủ sai hắn làm việc không chính đáng, hắn vừa làm vừa run. Không làm thì không được; mọi việc trong nhà, quyền bà ba. Chứ hắn, hắn có lòng nào đâu! Đến nỗi người đàn bà phát cáu. Bà thấy xa xôi không được, phải làm đến nơi. Bà bảo hắn rằng: “Mày thực thà quá! Con trai gì mà hai mươi tuổi đã như ông già”. Hắn vẫn giả vờ không hiểu. bà lẳng lơ bảo: “Chã nhẽ tao gọi mày vào đây chỉ để bóp chân thế này thôi ư?...” Và thấy hắn dùng dằng, bà mắng xơi xơi vào mặt. Hắn chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì”
            Chỉ nửa trang giấy, Nam Cao vừa miêu tả sống động hành động, nội tâm nhân vật Chí Phèo vừa khắc họa bản tính dâm đãng của mụ chủ. Người đọc kính trọng lòng tự trọng của Chí, trong hoàn cảnh khó xử, thân phận tôi đòi vẫn giữ được phẩm hạnh trong sạch. Không có cái tặc lưỡi, “cũng liều nhắm mắt đưa chân” của một chàng lực điền hai mươi tuổi. Cũng ở quàng đời ấy, Chí đã từng mơ một giác mơ “hạn chế”, hắn nhớ lại khi nghe tiếng chim hót, tiếng gõ mái chèo đuổi cá, tiếng người đi chợ kháo nhau: “Hắn nao nao buồn, là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi. Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng bỏ lại một con lợn để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”.
            Rốt cuộc, với Chí vẫn là giấc mơ. Nếu không đi ở tù, Chí Phèo cũng khó thực hiện giấc mơ đó. Định kiến xã hội vùi dập con người ta xuống tận bùn đen. Nam Cao khéo léo nhấn mạnh điều đó qua những lời xỉa xói của bà cô thị Nở: “Thật đốn mạt. Ngoài ba mươi tuổi…ai lại đi lấy chồng. Ai đời lại đi lấy chồng! Ừ! Mà lấy thì lấy ai chứ?...Đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao, mà lại đâm đầu đi lấy một thằng không cha…”
            Bà cô thị Nở có dòng mả hủi, có cô cháu dở hơi, xấu không thể xấu hơn vẫn không xem Chí Phèo là một con người!
            Chí Phèo thay đổi khi đi ở tù về cả nhân hình lẫn nhân tính. Hắn là sản phẩm được “giáo dục” của chế độ thực dân phong kiến qua sáu bảy năm: cái đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, ngực và tay chạm trổ rồng phượng và một ông tướng cầm chùy – “trông gớm chết” vẫn không che đậy được bản tính sợ sệt cố hữu. Hắn không làm được gì, kể cả chửi bới khi không có rượu. Rượu cho hắn dũng khí. Viết tới đây tôi chợt nhớ một mẩu chuyện tiếu lâm hiện đại: “Một người đàn ông hỏi người ăn xin:
            - Ông xin tiền để làm gì?
            - Mua rượu uống!
            - Ăn xin mà cũng uống rượu?
            - Uống để có dũng khí mà ăn xin.”
       Nam Cao sâu sắc, tinh tế  miêu tả nội tâm chứ không phải miêu tả tội ác của Chí Phèo. Những tính toán,suy nghĩ của hắn khi bá Kiến mời vào nhà sau khi chửi bới, rạch mặt ăn vạ, khi “rượu đã nhạt” thật sống động, chân thực, hết sức thuyết phục. Lúc đầu hắn sợ, nhưng rồi nỗi sợ hãi được hóa giải: “cùng lắm thì đi ở tù”, mà ở tù hắn đã quen rồi. Lại nữa, cụ bá có con làm lí trưởng, thế lực nhất vùng, “Bắc Kì đại biểu”, miệng thét ra lửa cũng phải nhún nhường với hắn, thử hỏi “cả cái làng nghìn suất đinh có ai bằng được hắn?”. Cái tâm trạng “chiến thắng” kiểu anh hùng rơm, sĩ diện mang tính chất A.Q trong con người hắn: “anh hùng làng này cóc đứa nào bằng ta” có xuất phát điểm là sự liều lĩnh. Xã hội xua đuổi, bá Kiến lợi dụng, hắn nuôi dưỡng khí chất ấy bằng rượu để tồn tại, lâu dần thành thói quen để “giải quyết” công việc, kể cả “yêu” thị Nở.
            Cái khí chất liều lĩnh của hắn là thói quen chứ không phải bản chất. Sau bát cháo hành của thị Nở - lần đầu tiên được người ta cho, hắn được xem như một con người đúng nghĩa, Chí Phèo ứa nước mắt nghĩ về cuộc đời mình, nghĩ về sự liều lĩnh, về nỗi cô đơn, bệnh tật. Nội tâm của Chí được Nam Cao khắc họa: “Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo. Xưa nay hắn chỉ sống bằng giật cướp và dọa nạt. Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì sao? Đã đành, hắn chỉ mạnh vì liều. Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều được nữa”
            Dùng đại từ “hắn” để nói về Chí Phèo là để “khách quan hóa” sự việc, thật ra tác giả đồng cảm, thương xót đứa con tinh thần của mình bằng cách cài đặt chi tiết, dẫn dắt câu chuyện hay cách dùng từ trong quá trình xây dựng hình tượng Chí Phèo. Trong suốt mấy chục trang sách, tác giả chỉ nói Chí Phèo say rượu chứ không một từ “nghiện rượu”. Hay như đoạn trích vừa nêu, dùng từ “giật cướp” chứ không phải “cướp giật”. Suốt chiều dài câu chuyện, tác giả cho người đọc thấy hắn giật cướp những gì? Chỉ quả chuối xanh bẻ ở vườn nhà ai đó, bốc nhúm muối của cô hàng xén để làm mồi nhậu hay dọa đốt quán mụ hàng rượu không bán chịu cho hắn mà thôi.
            Trước khi vào nhà Tự Lãng uống rượu, Nam Cao nhắc lại thứ tự từng câu chửi đoạn mở đầu truyện ngắn của Chí. Không một ai đáp lời hắn. Chí Phèo định vào bất kì nhà nào để đập bể một cái gì đó cho bõ tức. Nhưng hắn có đập bể cái gì đâu, chỉ sà xuống uống rượu cùng Tự Lãng. Chi tiết này Nam Cao chuẩn bị trước, nhằm nhấn mạnh hơn, lý giải thuyết phục hơn vì sao Chí Phèo không đến nhà thị Nở dâm chết “con khọm già” mà thẳng tiến đến nhà bá Kiến: “Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm những cái mà lúc ra đi chúng định làm”.
            Miêu tả kĩ càng những chi tiết uống rượu với Tự Lãng, Nam Cao tô đậm hơn khát vọng được thừa nhận là con người của Chí. Hai người uống “như chưa bao giờ được uống”, hết chai này Tự Lãng lấy chai khác, uống như một đôi tri kỉ cuồng. Hoàn cảnh Tự Lãng cũng cô đơn, đáng thương: vợ chết, có độc mụn con gái thì chửa hoang, bỏ nhà đi biệt xứ. Cùng chung tâm trạng nên dễ thông cảm với nhau. Lần đầu tiên Chí Phèo có bạn uống rượu, bạn tình cờ mà “tri kỉ”, tri kỉ đến mức không cần nói với nhau một lời, khác hẳn thói thường: rượu vào lời ra. Còn gì hơn nữa, vừa chửi “cha đứa nào không chửi nhau với hắn” để tìm kẻ thù, tức tối muốn đập bể môt cái gì đó thì gặp được bạn? Bữa rượu này Chí uống trong tâm trạng sảng khoái, uống vì sự đồng cảm chứ không phải uống lấy say để rạch mặt ăn vạ. Lúc này Nam Cao không cần đi sâu miêu tả Chí độc thoại nội tâm nữa, thay vào đấy, miêu tả cảnh vật. Con đường trăng, vườn chuối  “những tàu lá đẫm sương dưới ánh trăng giẫy đành đạch như là hứng tình”, cho thấy tâm hồn Chí đang phơi phới. Khát khao được thừa nhận là con người phần nào được giải tỏa, bất chợt gặp thị Nở nằm hớ hênh dưới ánh trăng, nỗi khát tình của Chí trào lên. Việc “yêu” thị Nở của Chí Phèo là giật cướp nếu xét về hành động; xét về tâm lí, nó có cả một tiến trình. Tiến trình ấy chỉ được nhận thức rõ khi và chỉ khi người đọc đồng điệu với nhà văn, xót xa cảm thông cho một số phận bất hạnh.
            Có thể nói Nam Cao là một nhà tâm lí học. Sau những trường đoạn làm người đọc căng ra suy nghĩ, ông “hạ hỏa” bằng những câu văn đậm chất hài hước miêu tả tình yêu Chí – Nở: “Hắn bảo thị:
            - Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?
Thị không đáp, nhưng cái mũi đỏ của thị như càng bạnh ra. Hắn nhận thấy thế cũng không có gì là xấu. Bằng một cái giọng nói và một vẻ mặt rất phong tình theo ý hắn, hắn bảo thị:
            - Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui.
Thị lườm hắn. Một người thật xấu khi yêu cũng lườm. Hắn thích chí, khanh khách cười”
            Nam Cao cẩn trọng với những chi tiết nhỏ. Sau “vẻ mặt phong tình” là “theo ý hắn”, bởi cái mặt đầy những vằn sẹo dọc ngang làm sao biểu hiện cảm xúc được? Rồi tác giả miêu tả đôi môi thị Nở nứt nẻ như bờ ruộng khô, mặt Chí đầy sẹo nên chúng không hôn nhau, chúng có cách yêu “cấu véo nhau, phát vào lưng nhau” chất lượng, hiệu quả hơn(!)
            Một biến cố lớn trong cuộc đời Chí Phèo là đi ở tù, Nam Cao chỉ cần hai chi tiết, móc xích và soi sáng cho nhau. Chi tiết thứ nhất: tung dư luận mập mờ về việc Chí phải đi ở tù. “Có người nói ông lí ghen anh canh điền khỏe mạnh mà sợ bà ba không dám nói. Có người thì bảo anh canh điền ấy được bà ba quyền thu quyền bổ trong nhà tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều. Mỗi người nói một cách, chẳng biết đâu mà lần”.
            Chi tiết thứ hai, bá Kiến muốn bắt tất cả những thằng trai trẻ đi ở tù vì trêu chọc bà tư: “Mắt bà, miệng bà có duyên nhưng trông đĩ lắm. hơi một tí là cười tít cả mắt lại, cái má thì hây hây. Mà thấy ghét những thằng trai trẻ, giá làm con bà không đáng, mà thấy đâu cũng đùa. Chúng đùa nhạt như nước ốc, chỉ được cái thô tục, mà gặp ai cũng cười! Chẳng nghĩ gì đến địa vị cả, người đâu mà vô tâm! Tức lạ! Cụ chỉ muốn cho tất cả những thằng trai trẻ đi ở tù…”
            Về kết cấu, truyện được dựng trên những vòng tròn đồng tâm. Thế đất làng Vũ Đại là “quần ngư tranh thực” (đàn cá vây quanh một miếng mồi), cường hào năm bè bảy phái cùng xúm vào bóc lột ức hiếp dân lành. Rồi thời điểm nào làng cũng có những thằng đầu trâu mặt ngựa, hết Năm Thọ, binh Chức rồi nảy nòi ra một thằng Chí Phèo. Số phận Chí cũng song hành trên cái vòng chung ấy:  đi ở tù từ nhà bá Kiến, kết thúc cuộc đời cũng tại nhà bá Kiến. Vật chứng cuộc đời hắn:  cái lò gạch cũ ở làng Vũ đại ít người qua lại, và rồi tương lai một Chí phẩy cũng sẽ ra đời tại đó…Cái bế tắc ngột ngạt, quằn quại của người dân lành đã cùng cực, quẩn quanh không lối thoát. Cái kết cấu ấy logic cho bi kịch nhân vật Chí Phèo chứ không phải bi kịch thể loại. Ngoài giá trị phản ánh hiện thực, truyện còn cho thấy một dự báo biến động về thời cuộc trong tương lai không xa. “Cùng tắc biến, biến tắc thông” , hẳn quan niệm ấy nhà văn hiểu hơn ai hết.

            Truyên ngắn càng về cuối càng trở nên hấp dẫn, giàu tính kịch. Nhân vật Chí Phèo được đồng cảm, xót thương hơn. Tư tưởng nhân đạo và bút lực phi thường của Nam Cao khơi gợi cho người đọc đương thời lòng căm phẫn xã hội xấu xa thối nát; nhắc nhủ những thế hệ sau Cách mạng tháng Tám phải biết quí cuộc sống hiện tại trên góc độ đối chiếu, so sánh. Không chỉ riêng về nhân vật Chí Phèo, các nhân vật khác của Nam Cao, suy ngẫm từ phương diện nghệ thuật, giúp chúng ta lĩnh hội tác phẩm trọn vẹn, sâu sắc hơn.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

TỰ TÌNH (II) ĐAU ĐÁU MỘT KHÁT VỌNG


                TỰ TÌNH (II)

          Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
         Trơ cái hồng nhan với nước non.
         Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
         Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
         Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
         Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
         Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
         Mảnh tình san sẻ tí con con!

       Nữ sĩ Hồ Xuân Hương sống mãi trong hồn dân tộc bởi tài năng thi ca rất độc đáo, lớn lao trong khuynh hướng phản kháng, chống đối lại mọi ràng buộc tinh thần xã hội phong kiến giai đoạn tàn lụi, nêu cao tinh thần nhân đạo vượt thời đại. Thơ Hồ Xuân Hương gợi cho người đọc khi sảng khoái, thích thú, lúc đồng cảm, xót xa. Riêng những bài thơ viết về mình, cho mình thể hiện rõ ý thức cá nhân, tâm tư sâu lắng của “bà chúa thơ Nôm” mà Tự Tình (II) là một trong số đó.
       Đêm sâu vắng lặng gợi trong tâm trí người đọc bởi “văng vẳng trống canh dồn”. Đây là thủ pháp nghệ thuật lấy động để tả tĩnh. “Văng vẳng” là từ xa đưa lại, tiếng được tiếng mất nhưng tác giả cảm nhận được tiếng trống gấp gáp bằng trực giác qua chữ “dồn”. Có lẽ người đánh trống cầm canh mong thời gian trôi nhanh bằng thúc nhịp trống? Trong cái đêm vắng lặng ấy, có một khuê phụ đang thức:
         Trơ cái hồng nhan với nước non.
 “Trơ” trong tiếng Việt có nhiều nghĩa, ở văn cảnh này được hiểu như sau:
       - ở vào tình trạng chỉ còn lẻ loi một mình.
       - sượng mặt vì ở vào tình trạng lẻ loi khác biệt quá so với chung quanh, không có sự gần gũi, hòa hợp. Hồng nhan chỉ người phụ nữ đẹp sắc sảo, kiêu sa. Theo quan niệm xưa những người phụ nữ hồng nhan cuộc đời ba chìm bảy nổi: “Quân tử gian nan hồng nhan bạc phận”.
       Về qui tắc ngữ pháp, “cái” ở đây là trợ từ, đứng trước danh từ “hồng nhan” biểu thị ý nhấn mạnh về sắc thái cảm xúc thân phận của tác giả. Như vậy, hồng nhan đã bạc phận rồi, “cái hồng nhan” được chỉ định cụ thể hơn, kết hợp với “trơ” thì không còn chút duyên nào nữa. Thế nhưng “cái hồng nhan” dù có trơ ra thì vẫn phải sánh “với nước non” chứ đâu chịu tầm thường, nhỏ bé. Câu thơ khẳng định rõ ý thức về bản thân của tác giả. 
         Chén rượu hương đưa say lại tỉnh 
         Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
       Say để quên đi nỗi buồn thân phận. Từ xưa tới nay có ai độc ẩm vì vui bao giờ. Càng cố quên lại càng nhớ. Sức mạnh của men rượu không lấn át, xóa nhòa được nỗi tái tê trong lòng. Cô đơn mang rượu ra uống, càng uống cảm giác cô đơn càng dâng trào giữa không gian cao rộng quá. Trong một đêm, trăng làm gì có trăng khuyết, trăng tròn. Mỗi tháng viên mãn nhất ngày rằm, còn phần lớn là méo, là khuyết. Phận lẽ mọn mấy khi được ái ân, sum vầy. Mỗi lần tái hợp vào ngày trăng tròn hay trăng viên mãn trong tâm hồn ngày gặp gỡ, cho dù cao xanh kia trăng khuyết? Có phải chăng từ ý thơ này mà thi sĩ Phi Tuyết Ba đã viết bài thơ tuyệt hay với nhan đề Trăng khuyết: 
         Anh ngỏ lời yêu em 
         Vào một đêm trăng khuyết 
         Bởi tình yêu tha thiết 
        Biết tròn trước đêm rằm.

         Em vui lúc trăng tròn 
         Chạnh lòng khi trăng khuyết 
         Anh ơi anh có biết 
         Trăng như tình lứa đôi?

         Sao anh vội ngỏ lời 
         Vào một đêm trăng khuyết 
         Để bây giờ thầm tiếc 
         Một vầng trăng chưa tròn. 
       Trở lại hai câu thực của bài thơ, người đọc đồng cảm với tâm trạng tác giả. Quãng thời gian qui ước không thay đổi, nó chỉ thay đổi theo hoàn cảnh tâm trạng. Khi vui thì: “Cuộc vui ngắn chẳng tày gang”, khi buồn thì: 
 Sầu đong càng lắc càng đầy 
 Ba thu dọn lại một ngày dài ghê. 
                                                                                      (Nguyễn Du)
       Bởi thế, với bản thân tác giả: say - lại - tỉnh; với vũ trụ: khuyết - chưa - tròn là một quá trình thời gian. Đây là minh chứng rõ ràng nhất của “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. 
       Còn trẻ, như câu kết Tự tình (I) khẳng định: “Thân này đâu đã chịu già tom”, còn khát khao bỏng cháy với hạnh phúc lứa đôi nhưng đối mặt với hoàn cảnh thực tại, độc giả hiểu diễn biến tâm trạng của tác giả vùng lên, phá cách ở hai câu luận, đậm phong cách Hồ Xuân Hương: 
         Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám 
         Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
       Một đêm đã trôi qua, trước mặt sân rêu từng đám, chân mây kia đã hiện rõ những hòn đá chồng lên nhau. Vạn vật muốn vươn lên sinh tồn, huống chi con người, mà con người này có tài, có tâm, có khát khao sống, khát khao hạnh phúc lứa đôi bỏng cháy. Nữ sĩ sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, câu thơ mạnh mẽ hơn. Yếu ớt như rêu cũng xiên ngang mặt đất mà mọc lên, ở chân trời kia đá dựng lên đâm toạc chân mây. Dù mềm yếu như rêu hay cứng như đá đều không chấp nhận sự đè nén, khuôn phép định sẵn. Phải chăng mượn những hình ảnh này, tác giả bộc lộ sự phẩn uất, phản kháng với lễ giáo đa thê hà khắc xã hội thời phong kiến? Hai câu thơ kết giải tỏa suy luận của người đọc: 
         Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
         Mảnh tình san sẻ tí con con!
       Xuân đi rồi xuân trở lại, tuổi xuân con người một đi không trở lại, Hồ Xuân Hương ý thức rất rõ về điều đó. Thân phận lẽ mọn, tình duyên chỉ là “mảnh tình” chứ đâu được trọn vẹn như “mối tình”, đã thế chỉ được “san sẻ - tí - con con” nên mỗi mùa xuân qua lại già thêm một tuổi, hỏi sao không ngán ngẩm, chán chường. Con người ta, với tuổi xuân - tuổi của khát khao hạnh phúc đôi lứa, cho dù thân phận, địa vị như thế nào điều đó vẫn không thay đổi. Cho nên, nỗi ngán ngẩm, chán chường mà tác giả thổ lộ ấy làm nổi bật giá trị nhân đạo của bài thơ. Đồng điệu với nữ sĩ, nhà thơ Xuân Diệu viết trong bài Vội vàng: 
         Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật,
         Không cho dài thời trẻ của nhân gian, 
         Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
         Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.
       Xuyên suốt trong bài thơ Tự tình (II) là nỗi đau buồn, phẫn uất trước duyên phận, đau đáu một khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc. Viết cho mình, đau nỗi đau của mình nhưng bài thơ có mẫu số chung cho tất cả phụ nữ chịu thân phận lẽ mọn dưới thời phong kiến nên giá trị nhân đạo sâu sắc, vượt thời đại. Về phương diện nghệ thuật, cách dùng từ, tả cảnh, tả tình độc đáo; nhiều ý thơ gợi cho độc giả, thi sĩ lớp sau nhiều liên tưởng, mạch nguồn cảm xúc trong cảm nhận và sáng tác.