Thứ Ba, ngày 02 tháng 8 năm 2016

Hiểu ta nhấc chén uống cùng với ta

Tặng anh Đoàn Văn Tam

Dấu chân in nẻo gần xa
Đắng cay cũng lắm vinh hoa cũng từng,
Ngẫm thương đôi mắt rưng rưng
Dõi ta ngày ấy mộng cùng nước non.
Sau lưng một mảnh tình con
Không sao neo nổi cánh buồm lãng du…

Tóc xanh đã chớm sương thu
Giật mình: đời tựa đèn cù mà thôi.
Chí trai vùng vẫy biển khơi
Mà ôm hận với cái tôi giang hồ!

Tiền tài phù phiếm hư vô,
Công danh là thứ để cho đời lừa.
Kém tài - quyền tước bán mua,
Lãng du biết phận, hơn thua làm gì!

Mưu sinh đành bước chân đi
Túi thơ bầu rượu cầu chi sang giàu…
Người yêu ta hỡi, ở đâu
Mai sau? quá khứ? thẳm sâu sơn cùng?
Đời bon chen: mặc! Ung dung
Hiểu ta nhấc chén uống cùng với ta!

Thứ Tư, ngày 29 tháng 6 năm 2016

GIÃ TỪ BẾN CŨ

         
          Bến cũ trăng nghiêng hình cánh võng
          Dòng sông lấp lánh ánh trăng ngân
          Câu hò lỡ bước sang ngang vọng
          Rớm giọt sương khóe mắt giai nhân

          Sang sông nàng nhớ mẹ thương cha
          Ngước mắt nhìn ai giọt lệ nhòa
          Câu hò ai oán ai sầu thảm
          Nặng lòng người mà trĩu cả lòng ta

          Bến cũ còn đây nàng đâu xa
          Trắng sương vương chút ánh trăng tà
          Câu hò năm ấy ghim trong gió
          Giã từ ta tiễn một mình ta.

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 6 năm 2016

ĐÒ LÈN - KÍ ỨC TUỔI THƠ QUÊ NGOẠI CỦA NGUYỄN DUY


ĐÒ LÈN

          Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
          bắt chim sẻ trên vành tai tượng Phật
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

          Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
          chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
          mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
          điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
          bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
          bà đi gánh chè xanh Ba Trại
          Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

          Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
          giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
          cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
          cứ nghe mùi huệ trắng hương trầm

          Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất
          đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
          thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
          bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

          Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
          dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
          khi tôi biết thương bà thì đã muộn
          bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
                                                      9 – 1983

Nguyễn Duy thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Độc giả say thơ anh bởi cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, sử dụng ngôn từ mộc mạc mà rất đỗi tinh tế, tài hoa; trầm tĩnh mà ngang tàng đậm chất lính; cảm xúc và suy tưởng luôn song hành, nhuần nhuyễn, hết sức tự nhiên trong từng câu chữ. Những điều ấy làm nên phong cách Nguyễn Duy mà Đò Lèn là một trong những bài thơ tiêu biểu.
          Bài thơ như một dòng chảy hồi ức từ lúc nhỏ dại đến lúc trưởng thành trong tâm tưởng tác giả. Xuyên suốt dòng chảy ấy là hình ảnh bà ngoại gắn liền với những địa danh ở quê hương cùng với những biến cố lịch sử.
          Về mặt hình thức, bài thơ có 6 khổ, một dấu chấm câu cuối bài thơ, chữ đầu mỗi khổ thơ viết hoa, chữ đầu mỗi dòng thơ viết thường, chắc chắn đây là dụng tâm của tác giả. Mỗi khổ thơ một mẩu chuyện, những mẩu chuyện ấy kết nối với nhau chặt chẽ trong quỹ đạo Đò Lèn.
          Hai khổ thơ đầu, Nguyễn Duy kể chuyện sinh hoạt thuở nhỏ và những ấn tượng lưu lại trong kí ức:
          Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
          bắt chim sẻ trên vành tai tượng Phật
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

          Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
          chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
          mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
          điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
          Những câu thơ giàu hình tượng gợi lên trước mắt người đọc một cậu bé nghịch ngợm, vô tư, hồn nhiên. Câu cá, bắt chim, đá gà, chọi dế là thú vui của những đứa trẻ nông thôn cái thời chưa có máy tính nối mạng internet. Vui hơn là lập được “chiến công” để kể với bạn bè khi hái trộm được trái cây ở vườn nhà nào đó. Câu Thơ:
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Nguyễn Duy viết chân thực quá. Hầu như trẻ con ở nông thôn thời bấy giờ là thế cả. Cái tâm lý hồi hộp, lo sợ người lớn bắt gặp giống như trò chơi mạo hiểm, sợ mà vẫn thích chơi. Người viết bài này đã từng nếm trải điều đó nên hiểu được điều tác giả kể. “Anh hùng” là thế nhưng khi bước ra khỏi làng:
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Cái không gian làng quê ngày xưa hạn chế rất nhiều việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài, do đó đi xa một chút là lo sợ, mà với trẻ con thì sợ nhất là lạc đường. Chi tiết “níu váy bà” cho chúng ta biết khoảng độ tuổi tác giả lúc bấy giờ.
          Hai khổ thơ tiếp theo là những suy tưởng của Nguyễn Duy về hình ảnh người bà. Đây là suy tưởng khi tác giả viết bài thơ này chứ không phải là suy tưởng ở cái thời trẻ con ấy. Ngày bà mò cua bắt ốc, buôn bán chè xanh lúc khuya lúc sớm dưới giá buốt mùa đông năm đói ấy, tác giả vẫn vô tư, hồn nhiên, anh thú thực:
          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
          bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
          bà đi gánh chè xanh Ba Trại
          Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
          Không một ai, tài thơ đến mấy có thể thay thế “thập thững những đêm hàn” mà giữ được nguyên giá trị nghệ thuật, giá trị biểu cảm của khổ thơ. Từ láy “thập thững” là sáng tạo hết sức độc đáo của nhà thơ nên dù tra từ điển nào cũng không tìm được. “Thập thững” là cách kết hợp của các từ láy “chập chững”, “thập phương”, “thập thò” trên cơ sở chọn lọc ngữ nghĩa phù hợp với văn cảnh. “Thập phương” tương ứng với những địa danh đồng Quan, Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao…”thập thò” là lúc thấy lúc khuất, “Chập chững” là bước đi không vững. Hình ảnh người bà gánh chè xanh bước thấp bước cao trong đêm giá buốt, nghĩ lại mới thương xót làm sao!
          Tảo tần, cơ cực làm đủ mọi việc, bà cháu nuôi nhau đói vẫn đói. Điểm tựa tinh thần của bà là tiên, Phật, thánh, thần, còn điểm tựa của cháu chính là người bà tần tảo. Nhớ lại thuở ấy, Nguyễn Duy viết:
          Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
          giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
          cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
          cứ nghe mùi huệ trắng hương trầm
          Tin vào bà là thực, tin theo niềm tin của bà còn mơ hồ, chưa rõ nét lắm. Tiên, Phật, thánh, thần đâu không thấy, chỉ “nghe mùi huệ trắng hương trầm”. Giữa hai bờ thực - hư đó, “củ giong riềng luộc sượng” vẫn là bữa cơm năm đói. Thời đói, ăn cái gì cũng ngon, “củ giong riềng luộc sượng” mà “cứ thơm mùi huệ trắng hương trầm” khác nào giờ đây thưởng thức món ăn đặc sản của đầu bếp trứ danh khách sạn 5 sao chế biến.
          Về thủ pháp nghệ thuật, tài hoa sử dụng phép đối trong khổ thơ rõ ràng, chuẩn mực, cân xứng:
                                                   thực
                                                    bà
                củ giong riềng luộc sương

tiên, Phật, thánh, thần
mùi huệ trắng hương trầm
          Khổ thơ thứ 5, tác giả tiết chế cảm xúc của mình để kể về một biến cố lịch sử: Mĩ ném bom miền Bắc. Có độc giả nói với chúng tôi sao trước nỗi đau mất mát đó mà tác giả kể một cách dửng dưng? Nếm trải những năm tháng hứng chịu mưa bom bão đạn Mĩ hồi đó mới hiểu vì sao tác giả viết như vậy. Mĩ đã từng tuyên bố hủy diệt, đưa miền Bắc trở lại thời kì đồ đá. Nhiều thành phố không còn một viên gạch nguyên vẹn, nhiều làng quê bị xóa sổ. Bệnh viện, trường học, chùa chiền…không nơi nào tránh khỏi bom đạn, thế nên, hồi tưởng về giai đoạn ấy tác giả cố nén cảm xúc chủ quan để làm nổi bật hiện thực khách quan.
          Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất
          đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
          thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
          bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
          Chữ “tuốt” có thể thay bằng chữ “tất”, lượng thông tin không thay đổi nhưng kém đi giá trị biểu cảm. Những nơi thờ tự, nơi con người gửi gắm niềm tin vào thế giới tâm linh còn bị bom Mĩ giội thì nhà bà ngoại tác giả bay mất cũng có là gì?
          Nơi tới lui với thế giới tâm linh không còn mà cuộc sống vẫn phải tiếp tục. Cũng là “đi” nhưng “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” – tránh bom đạn Mĩ chăng? còn bà với mưu sinh: “đi bán trứng ở ga Lèn”. Đằng sau những câu từ pha chút hài hước ấy là tình cảm thương xót vô hạn. Trước kia bà chân trần gánh nặng, “thập thững những đêm hàn” có vấp một cái đau buốt đến xương vẫn còn hai chữ bình an thì nay “bán trứng ở ga Lèn” mười phần mạo hiểm với tính mạng. Ga tàu là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mĩ.
          Khổ cuối bài thơ tác giả bộc bạch tình cảm của mình với bà trong tiếc thương, hối hận. Cảnh quê ngoại vẫn như xưa nhưng bà đã ra đi mãi mãi. Hai câu kết là lời tâm sự rất chân thành, người đọc nghe như nước mắt đang chảy vào trong:
          khi tôi biết thương bà thì đã muộn
          bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
          Đọc lại lần nữa, chúng ta tự hỏi tại sao Nguyễn Duy không dùng “Hồi ức tuổi thơ”, “Quê ngoại yêu thương”…đặt tên cho bài thơ mà lại dùng Đò Lèn – một địa danh? Trong kí ức của anh phải chăng ga Lèn là nơi bà chịu cơ cực, nguy hiểm nhất? Và đó cũng là cái tên bình dị, một chứng tích đau thương của chiến tranh, nghèo đói một thời khi ta nghĩ về nó? Những câu chữ bình dị hiển hiện trước mắt ta chất chứa đằng sau những tầng bậc xúc cảm, muốn lên được tới đỉnh phải nắm được tay vịn suy tư, đồng cảm, yêu thương mà tác giả đã san sẻ
         Với Đò Lèn, Nguyễn Duy đã đóng góp khối đá quí trong lâu đài văn học nước nhà. Càng ngắm, người đọc càng thấy lấp lánh ánh sắc Việt, thoang thoảng mùi huệ trắng, hương trầm.

Thứ Hai, ngày 30 tháng 5 năm 2016

NGƯỜI ĐI CÓ NHỚ LỐI VỀ






















Lá bàng rơi lá vàng rơi
Đầu nhành nảy lộc màu trời xanh non
Gió đùa dìu dặt từng cơn
Hồng nhung khép cánh bên thềm đợi ai?
*
Ve kêu rộn, hạ tới rồi
Tự dưng ta cũng bồi hồi tiếng ve
Người đi nón lá nghiêng che
Mang theo một khoảng trời quê ngậm ngùi…
*
Lá bàng xanh thắm lại rồi
Phượng hồng thắp lửa rực trời đường quê,
Người đi có nhớ lối về
Chao nghiêng nón hứng tình quê ngọt ngào.

Thứ Bảy, ngày 21 tháng 5 năm 2016

NGƯỜI VẸT

       
   Giả Bằng nuôi một con vẹt được gần chục năm, nói sành sỏi tiếng người, khôn như tinh, tính nết ngày càng giống ông chủ. Một hôm con vẹt nói:
          - Tôi muốn làm lãnh đạo! Tôi muốn làm lãnh đạo!
          Giả Bằng đem chuyện nói với Tham Phú. Tham Phú thầm nghĩ làm gì thuộc chuyên môn thì khó chứ làm lãnh đạo ai mà chả làm được. Cũng hay, Tham Phú cần đội quân dưới trướng nói theo những điều mình nói là tốt lắm rồi. Với lại, biến con vẹt thành người, xếp vào vị trí nào đó với Tham Phú nào có khó gì, thử nghiệm này mà thành công thì muôn vàn cái lợi…Hứng chí, Tham Phú nói với bạn:
          - Ông về mang con vẹt sang đây!
          Con vẹt đậu trên vai Giả Bằng, thấy Tham Phú, nó bay xuống, gật gù cái đầu:
          - Chào ngài Tham Phú! Chào ngài Tham Phú!
Tham Phú thổi một hơi, con vẹt hóa thành người đàn ông vóc dáng vừa phải, trắng trẻo, đeo kính, nhìn có dáng vẻ trí thức. Tham Phú bảo con vẹt soi gương xem bộ dạng mới, lão hỏi:
          - Ngươi hài lòng không?
Con vẹt láu táu:
          - Thích ạ! Thích ạ!
Giả Bằng nghĩ con vẹt biến thành người thì nó thuộc về Tham Phú, nghĩ cũng tiếc, lão hỏi:
          - Muốn nó trở lại thành con vẹt thì làm thế nào?
Như đọc được suy nghĩ của Giả Bằng, Tham Phú cười:
          - Muốn trở lại làm vẹt thì tùy thuộc vào nó thôi, tôi không có phép biến người thành vật.
Nghĩ con vẹt không bao giờ muốn trở lại làm vẹt, Tham Phú nói:
          - Muốn trở lại hình hài xưa nó chỉ cần nhắm mắt, hai tay ôm đầu, la lớn ba lần “ta không muốn làm người!” là OK!
Quay sang người vẹt, Tham Phú hỏi:
          - Sao ngươi muốn làm lãnh đạo?
          - Người ta nể sợ, thưa ngài! Oai lắm! Oai lắm!
          - Ngươi biết gì về lãnh đạo mà đòi làm?
          - Dễ ợt, thưa ngài! Chỉ cần đọc công văn, chỉ thị! Chỉ cần đọc công văn chỉ thị!
          - Người ta không hiểu ngươi giải thích làm sao?
          - Đọc lại công văn, chỉ thị thưa ngài! Hỏi nữa bảo văn thư phô tô cái công văn, bảo đem về mà nghiên cứu, nhắc thêm một câu: “xem cho kĩ vào, làm sai là chết với tôi!”.
Tham Phú cười khìn khịt, sảng khoái nhấm nháp li rượu Remy Martin Louis XIII, phỏng vấn tiếp:
          - Cấp trên đến kiểm tra đơn vị do ngươi làm lãnh đạo, ngươi xử lý như thế nào?
Thằng người vẹt cười cười:
          - Giao cho cấp phó chuẩn bị báo cáo, thưa ngài! Sau buổi kiểm tra mời cấp trên đi nhậu hải sản, đi nhậu hải sản!
Tham Phú ngạc nhiên về “trình độ” người vẹt, lão hỏi:
          - Ngươi học quản lý nhà nước ở đâu?
Người vẹt cúi đầu, nhỏ nhẹ:
          - Học ở cách lãnh đạo của ông Giả Bằng, thưa ngài! Học ở ông Giả Bằng!
Tham Phú nói với Giả Bằng:
          - Nó làm lãnh đạo được đấy nhưng biết xếp cho cái ghế nào là phù hợp đây?
Tham Phú cau mặt, vẻ trầm tư. Mà lão trầm tư thật. Mấy cái ghế bên mảng kinh tế, chính quyền đã nhận tiền người ta rồi, sắp xếp còn chưa xong…cái thằng người vẹt này xếp cho nó một ghế không được chút lợi gì bỏ túi nhưng lợi về đường xa, về mặt chính trị. Nó sẽ là cái loa của mình, trung thành tuyệt đối với mình….Ở đời phải cân bằng một tí, có đứa cung phụng, có đứa tung hô mới ngồi vững trên cái ghế tổng quản này. Chả như lão Án Đề, cúi mặt phàm ăn cuối cùng cũng phải nôn ra năm bảy phần. Hắn không phải ở tù vì mấy thằng xử án (và ngay cả mình nữa) cứ thon thót lỡ hắn cú lên khai ra “các đồng chí chưa bị lộ”….
          Vỗ đùi đánh đét một cái, Tham Phú ngửa mặt lên trời cười khìn khịt:
          - Ơ rê ca! Được rồi! Sẽ xếp cho nó một ghế lãnh đạo ngành giáo dục.
Giả Bằng tán dương:
          - Anh thật tuyệt! Đúng là nhìn xa trông rộng, cho nó làm giáo dục vừa hợp tính hay nói của nó vừa xây dựng nền tảng lâu dài…
Tham Phú hỏi người vẹt:
          - Thế nào, ngươi có thích không?
Thằng người vẹt vòng tay, cúi đầu cung kính:
          - Thích ạ, thưa ngài! Thiên hạ ai cũng gọi bằng thầy! Thiên hạ ai cũng gọi bằng thầy!
Giả Bằng quát:
          - Láo! Trước mặt ngài Tham Phú và tao mà mày dám mở miệng thế à?
          - Con xin lỗi! Con xin lỗi! Con xin lỗi!
Nó xin lỗi liến thoắng, giữ đúng tính nết loài vẹt.

          Trước khi đặt hắn vào một vị trí cao, Tham Phú ấn hắn làm hiệu trưởng trường phổ thông, mục đích của lão là để hắn quen dần với phong cách lãnh đạo.
          Ngày đầu tiên đến trường, hiệu trưởng Viết Điểu – cái tên Tham Phú đặt cho người vẹt, đọc thuộc hết các băng rôn, khẩu hiệu, nội quy của trường. Cho gọi thầy thư kí Hội đồng lên phòng hiệu trưởng, người vẹt hỏi:       
          - Thầy có nắm vững nhiệm vụ trọng tâm năm học cấp trên chỉ đạo không?
Thầy thư kí trình bày không biết cơ man nào là công văn, chỉ thị, Viết Điểu nghe cứ ong ong cả đầu. Lấy ngón tay chống kính, chằm chằm nhìn thầy thư kí, người vẹt rành rọt:
          - Thầy hãy nói ngắn gọn, càng ngắn càng tốt.
Thầy thư kí Hội đồng trán lấm tấm mồ hôi, nghĩ thầy hiệu trưởng chắc đang khảo hạch năng lực của mình đây…Suy nghĩ một lát, thầy nói:
          - Thưa thầy, về quan điểm, giáo dục là quốc sách hàng đầu; thứ hai, ngành ta phải đổi mới phương pháp dạy học; thứ ba là xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; thứ tư là mỗi cán bộ, thầy cô giáo là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo…
Viết Điểu nghĩ thì ra chúng được viết ra thành khẩu hiệu rồi đấy thôi, y gật gù cái đầu:
          - Thầy có năng lực! Thầy có năng lực!
Thầy thư kí hội đồng thở phào nhẹ nhõm, hiệu trưởng Viết Điểu nói:
          - Trước mỗi kì họp hội đồng thầy viết cho tôi một bảng tổng hợp rút kinh nghiệm cái chưa làm được và những việc phải làm trong thời gian tới!

          Một học kì trôi qua, mỗi người nghĩ về thầy hệu trưởng mỗi cách. Người nói thầy nghiêm, người nói thầy hay nói lắp, hay quên, người nói thầy lười, có hai tiết một tuần mà cũng giao người khác dạy…Được cái thầy không đi sâu vào việc chuyên môn. Cô giáo trẻ Linh Đa có vẻ quí thầy trên mức bình thường nói với bạn thân hễ có chuyện gì bực tức thầy vung hai tay ra giống như con gà trống xòe cánh chuẩn bị đá nhau. Cô bạn cười bảo đó là kiểu nhún vai theo phong cách Âu.  Ghét cái, mượn cớ  hỏi thầy về kinh nghiệm đổi mới dạy học thầy lại bảo “đọc kĩ công văn”! Nhiều thầy cô giáo có vẻ nể sợ thầy hơn khi cô văn thư xì ra thông tin thầy là con cháu gì đấy của các ngài Giả Bằng, Tham Phú. Cô ta còn nói làm hiệu trưởng cái trường này không xứng cái tầm thầy nên thầy hay lơ đễnh vậy thôi.
          Tính nết thầy hiệu trưởng ngày càng khó chịu. Giữa học kì II, khảo sát chất lượng học sinh theo bộ đề của Sở, chất lượng các môn không mấy khả quan, kém nhất là môn Tiếng Anh. Sở không phê bình nhưng thầy cứ ấm ức. Cái ấm ức là giáo viên, học sinh làm bẽ mặt thầy, cứ cái đà này thì phải còn lâu thầy mới được bổ nhiệm lên chức vụ cao hơn. Viết Điểu chửi thầm: “bọn học trò này thật ngu dốt, năm sáu năm học một thứ tiếng mà trình độ nghe, nói chỉ như đứa trẻ lên ba”. Rồi lại nghĩ: “mấy thằng cha con mẹ dạy cái kiểu gì không biết, dạy ngoại ngữ là nghe được, hiểu được, nói được, đằng này khi nào cũng động từ bị động, quá khứ, hiện tại tiếp diễn…học sinh phổ thông là học những cái phổ biến, thông dụng. Nhồi nhét một mớ qui tắc ngữ pháp mà để làm gì? Cứ như ta đây, chẳng biết quái gì về ngữ pháp tiếng Việt, tự học một năm đã nói được bập bẹ tiếng người, hai năm nói và hiểu điều mình nói, ba năm đối thoại rành rọt, chục năm đủ tri thức làm lãnh đạo. Đã thế, lại ra rả kêu học sinh học vẹt! Học được phân nửa ta thì đã quí. Chao ôi, đúng là “làm đầy tớ thằng khôn hơn là làm thầy thằng dại!”…
          Đang định xuống văn phòng kí mấy cái chứng từ cho kế toán, Viết Điểu nghe tiếng Linh Đa đang thì thầm với mấy cô giáo cho dù khoảng cách phải gần năm chục mét:
          - Em nghĩ thầy hiệu trưởng hình như là BĐ.
Cô Duyên dạy Sinh bụm miệng cười:
          - Đã thử chưa mà biết!
          - Có lần em giả bộ quên cài nút cổ áo, đứng sát vào người thầy mà thầy dửng dưng như không, lại nghiêng má áp vào hai bên vai như chim quẹt mỏ mới tức chứ!
Cả bọn cười cười khơ khớ, cô Hải Anh dạy Văn nói:
          - Tại cô mạnh bạo quá nên người ta sợ thôi!
Cô Duyên phản bác:
          - Tớ còn thích Linh Đa huống gì đàn ông, đúng là BĐ rồi. Lựa chọn một trong các vệ tinh đi thôi em. Vô phúc vớ phải thằng hoạn quan.
          - Nói thật đi, cô thích gì ở cái “ngài” nói như công văn đó? Hải Anh hỏi.
          - Nếu là địa vị thì em đã nhận lời anh Tuấn phó giám đốc Sở Nội vụ con Bí thư tỉnh rồi. Lúc đầu em cảm thầy Viết Điểu nho nhã thư sinh lại nghiêm túc nữa. Lâu dần em phát hiện ra thầy thích được người ta tung hô, tham vọng chức quyền lớn. Có lẽ mục tiêu cả đời thầy là vậy đấy…
          Máu rần rật trong huyết quản Viết Điểu, cả như Linh Đa, tưởng như cô trong sáng, hồn nhiên mà nghĩ về mình như vậy thì kẻ khác sẽ như thế nào đây…Cô Hải Anh trầm giọng nhưng người vẹt nghe rõ mồn một:
          - Đừng kể chức tước lớn hay nhỏ, sống phải thực với chính mình, tự do làm những việc mình thích, mình cho là hợp lẽ, chứ đừng phụ thuộc, đừng tự biến mình thành con rối, cái loa của một ai đó…
          Viết Điểu chết lặng, thì ra bọn người này giả dối cả. Trước mặt hiệu trưởng ai cũng lễ phép, gặp riêng từng người ai cũng nói những lời có cánh…may nhờ đôi tai của loài chim mà mình nhận ra sự thật. Chao ôi! Lâu nay mình sống trong ảo tưởng, cả cái lão Giả Bằng, Tham Phú cũng đang sống trong ảo tưởng. Các lão ấy bày vẽ, đầu độc người ta sống trong ảo tưởng rồi chính những điều ảo tưởng ấy thấm sâu, thành máu thịt các lão…Cái xã hội này được thổi phồng như một cái bong bóng, một cái bong bóng không biết nổ tan lúc nào mà thôi.
          Viết Điểu vào phòng, mở toang hai cánh cửa sổ, trên bầu trời kia từng đàn chim bay lượn tự do, chúng kháo nhau đâu là mồi thật, đâu là mồi nhử, dặn dò nhau tiếng gọi bầy để tránh cạm bẫy bọn người chăng ra. Chúng tiếc thương cho những con chim non khờ dại không phân biệt được mồi, bị bọn người làm thịt, hay đau đớn hơn phải cầm tù trong lồng, có cánh mà không được bay, làm trò vui, vật cảnh…

          Không thấy thầy hiệu trưởng xuống ký chứng từ, cô kế toán lên tìm. Cửa phòng không đóng. Cô giật mình thấy bóng một con vẹt bay ra, còn trên sàn nhà là bộ đồ thầy hiệu trưởng mặc lúc ban sáng.
       

Thứ Ba, ngày 03 tháng 5 năm 2016

UỐNG TRÀ


                Ngụm trà chát đầu lưỡi
                Dìu dịu ngọt thanh tao
                Có hương thơm đồi núi
                Có sương nắng ướp vào.

                Anh bạn trẻ nâng chén
                Mắt mơ màng xa xăm
                Yêu kiều nàng sơn nữ
                Hái chè đêm trăng thanh.

                Ông bạn già châm nước
                Nhớ lại thời trẻ trai
                Nhai lá trà đỡ buốt
                Lánh giặc đêm đông dài.

                Người uống trà sảng khoái
                Người nhấm nháp trầm tư
                Trong lòng ta giọt mặn
                Mẹ sao trà, hát ru.

Thứ Hai, ngày 11 tháng 4 năm 2016

HOA GẠO

     
          Bên dòng sông xanh hoa gạo đỏ
          Đỏ rực trời trong đỏ lòng sông,
          Đỏ như năm ấy tàu bay giặc
          Cháy đỏ trời lưới lửa vây giăng.

          Tháng ba hoa gạo đỏ trời quê
          Em nghiêng nón lá dọc triền đê,
          Có thấy trời xanh hoa gạo đỏ
          Soi dòng trong theo bước em về?

          Hoa gạo cháy lên gọi mùa hè
          Ríu rít tiếng chim rộn tiếng ve,
          Khăn hồng áo trắng em nhẹ bước
          Em là hoa gạo của hồn quê!