Thứ Sáu, ngày 04 tháng 11 năm 2016

THUYỀN GIẤY

      
          Chiếc thuyền giấy ngày xưa
          Bồng bềnh trên sóng nước
          Sóng nước của ao làng
          Gợn hồn ai mênh mang.

          Cô bé ấy ngày xưa
          Tóc mướt đen bồ kết
          Làn da mịn như tuyết
          Mắt đen tròn ngây thơ.

          Làng mình thuở ngày xưa
          Chiều khói lam mái rạ
          Tiếng sáo diều trong gió
          Thơm mùi cơm tháng mười…

          Nhẹ nhàng thuyền giấy trôi
          Ngược dòng đời hối hả,
          Ta ngược thời xanh lá
          Tìm về miền lá xanh.

          In bóng nước ao đình
          Một mái đầu sương trắng
          Cô bé ấy ngày xưa
          Khỏa tay làm nên sóng.

          Chiều nay làn mây ấm
          Trôi ngang qua ao làng
          Xốn xao lòng mênh mang
          Anh gấp con thuyền giấy…

Thứ Tư, ngày 26 tháng 10 năm 2016

NHỚ TRUNG ĐOÀN


          Ba năm – một cuộc đời quân ngũ
          Ba mấy năm xa cách Trung đoàn,
          Những gì từng trải qua rất đẹp
          Cháy trong lòng ký ức mênh mang!…

          Thao trường Cò Cưa nắng đổ
          “Kát tút” nhiều tựa vỏ sò,
          Đồng Mô một chiều diễn tập
          Chìm xe trôi mất ba lô.

          Những đêm mùa đông rét buốt
          Úp thìa nằm ngủ co ro
          Áp lưng trong lòng đồng đội
          Ghét ghê đứa ngáy khò khò…

          Về phép khao nhau “điếu khoẳn”*
          Thư nhà, chúng thích – đọc chung
          Chẳng có riêng tư gì sất
          Đồng đội – đồng chí – đồng lòng.

          Mỗi buổi sớm mai thể dục
          Một thằng hai cục đá ong
          Vác về dồn xây doanh trại
          Trông như đàn kiến băng đồng.

          Bữa chính ba lưng sắn lát
          Chạy đua bánh xích xe tăng
          Thao trường những trưa nắng đổ
          Nhớ sao dãi đất Hạ Bằng.

          Vui sao những chiều thứ bảy
          Cầu đêm gió mát trăng trong,
          Rủ nhau vào làng Phú Mãn
          Tìm trêu “hương nội gió đồng”.

          Mấy đứa ngày mai “tranh thủ”
          Trốn sang C khác ngủ nhờ,
          “Kinh nghiệm” đàn anh dạy thế
          Muốn không bỏ lỡ giấc mơ.**

          Tiểu đoàn có mấy thằng tếu táo  
          Thích chọc quê những đứa hiền từ,
          Chuyện tiếu lâm trên trời dưới đất
          Ngày ra quân lại khóc hu hu…
         
          Ba mấy năm…bồi hồi nhớ lại
          Thuở tráng niên là lính Trung đoàn
          Làm gì cũng vững vàng truyền thống
          Giúp  dân và xa lánh quan tham!

* thuốc lá, tiếng lóng của lính Trung đoàn 102
**Được cấp trên cho về thăm nhà thời gian ngắn.
Sang ngủ nhờ đại đội khác vì sợ đang đêm có lệnh
di chuyển, bị thu hồi giấy phép.

Thứ Bảy, ngày 17 tháng 9 năm 2016

Em ơi có nhớ...

       
          Anh đã từng nghe khúc hát em ru
          Trong một chiều mưa mây giông vần vũ,
          Từng nắm tay em đi trên lối cũ
          Lối cũ người xưa cỏ mới lên xanh.

          Anh cùng em ngắm ánh trăng thanh
          Mảnh hồn quê vườn thu năm ấy,
          Ánh trăng thanh có mắt sao nhấp nháy
          Lóng lánh sương treo cành trúc la đà.

          Anh đã từng nghe em nói về hoa
          Bên ấm trà sương mùa đông năm ấy,
          Anh đã nghe tưởng chừng cháy máy
          Em gọi anh khi góc biển chân trời.

          Em đã từng rớm lệ đó thôi
          Xa cách bao lâu bất ngờ anh tới
          Bên nhau rồi em giận hờn em nói
          Làm tội anh vì tiếng gọi trái tim em…

          Em chỉ mong một cuộc sống bình yên
          Với anh, con và với cả mẹ hiền,
          Sân trước đầy hoa sau nhà chim hót
          Đừng như anh, con theo nghiệp bút nghiên!

          Con tàu anh năm tháng tuần duyên
          Rẽ sóng mà đi dù mưa hay nắng,
          Quen với bão giông, chạnh lòng trống vắng
          Sau ngọn hải đăng nơi ấy quê nhà.

          Tàu về bến em đã đi xa
          Em gửi lại cánh hoa năm ấy
          Cánh hoa mỏng manh nằm trong trang giấy
          Dòng chữ nhòe đau biết mấy nỗi đau!...

          Anh cứ tưởng mình mãi mãi của nhau,
          Đường cũ còn đây vườn trăng còn đó,
          Tới xứ cờ hoa em ơi còn nhớ
          Lời thề xưa trong tiếng gió miền quê?

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 9 năm 2016

MỘT LẦN ĐI HÁT PHƯỜNG VẢI CỦA CỤ PHAN BỘI CHÂU


Hát phường vải ở Nghệ Tĩnh là diễn xướng dân gian có trình tự lớp lang khá chặt chẽ. Địa điểm hát thường là mảnh sân nhà nào đó vào mùa kéo sợi xe tơ. Các cô gái làng vừa làm việc vừa hát, đó là hát dạo. Các chàng trai đi ngang qua cổng (như vô tình) dừng lại hát vài câu ướm thử (hát hỏi),  bên nữ đối lại -  hát chào, hát mừng. Thế nhưng để được mời vào trong sân hát, các chàng trai phải qua thử thách hát đố. Hát đố nhiều lĩnh vực nhưng những câu đố thường được đưa ra nhất là đố chữ, đố tình huống lễ nghĩa. Trả lời không nhanh, không chuẩn là thua, do đó, đi hát nhiều người, phát huy trí tuệ tập thể là rất cần thiết. Nghe hát phường vải, có nhà nghiên cứu nói rằng lời hát thâm thúy cao sang nhưng lại rất dân dã.
          Nam Đàn là đất hát phường vải, nơi đây có nhiều giai thoại về những đêm hát của những bậc túc nho, những người chí lớn. Nghe qua mấy câu  xe kết (hát thương, hát nhớ, hát trách) trong một đêm hát phường vải ở Nam Kim của cụ Phan Bội Châu, chúng ta mới hiểu thêm chí khí của người đội đá vá trời.
          Một cô gái trẻ đẹp, thông minh có tiếng gửi gắm nỗi lòng mình với anh San:
Sắp nhau một gánh nặng nề
Giang sơn bịn rịn tình quê nghẹn ngào.
          Tiếng địa phương “sắp nhau” nghĩa là gặp nhau. Hình như cô gái biết Phan Bội Châu đang nghĩ đến giang sơn nên không hiểu được “tình quê nghẹn ngào” của cô. Phan Bội Châu hát đáp:
Đêm xuân gặp gỡ giữa đường
Non sông một đội cương thường hai vai
          Cô gái nói “sắp nhau một gánh nặng nề”, còn với Phan Bội Châu chỉ là “đêm xuân gặp gỡ giữa đường” mà thôi. Non sông một đội - ở trên đầu, là lý tưởng theo đuổi, sau đó mới đến hai vai gánh vác tam cương, ngũ thường, phân định rạch ròi trách nhiệm của trai thời loạn. Trong tam cương, phu – phụ xếp ở vị trí thứ ba, sau quân – thần, phụ - tử. Mượn chữ “cương thường” mà anh San nói đến, cô gái không còn úp mở nữa:
Chung vai, chung cả đò đầy
Cho em chung mẹ, chung thầy với anh.
          Biết cô gái yêu thương thật lòng, tha thiết như thế, nhưng tiếng gọi cứu nước canh cánh trong tim, Phan Bội Châu khéo léo từ chối mà không để cho cô gái tẽn tò, trái lại, nâng tầm cô lên:
Chung binh, chung tướng, chung vương
Cùng anh chung cả tứ phương sơn hà.
          Cô gái biết tình yêu của mình không mảy may thay đổi ý định Đông Du của San, than thở:
Vui chi một cuộc cờ tàn
Mà chàng xe ngựa một đoàn sang sông.
          Cô nghĩ thế nước đã như cuộc cờ tàn, chàng gắng gượng làm chi. Phan Bội Châu tin tưởng vào kết quả công việc của mình, lật ngược thế cờ:
Nhất vui là cuộc cờ tàn
Mã lên chiếu bí pháo toan chiếu trùng.
          Không biết sau này cô gái ấy có gặp lại Phan tiên sinh lần nào nữa hay không? Cuộc đời cô như thế nào chúng ta không biết nhưng chắc chắn một điều là hình ảnh chàng thanh niên yêu nước Phan Văn San sống mãi trong trái tim cô, trong lòng dân tộc.
          Nhớ cụ Phan, nhớ những đêm trăng nghe hát phường vải ở miền đất địa linh nhân kiệt, tôi ước gì diễn xướng dân gian ấy được bảo tồn, phát huy, được đưa vào trường học để thế hệ trẻ hiểu tinh hoa, bản sắc cha ông mình hơn.

            

Thứ Ba, ngày 02 tháng 8 năm 2016

Hiểu ta nhấc chén uống cùng với ta

Tặng anh Đoàn Văn Tam

Dấu chân in nẻo gần xa
Đắng cay cũng lắm vinh hoa cũng từng,
Ngẫm thương đôi mắt rưng rưng
Dõi ta ngày ấy mộng cùng nước non.
Sau lưng một mảnh tình con
Không sao neo nổi cánh buồm lãng du…

Tóc xanh đã chớm sương thu
Giật mình: đời tựa đèn cù mà thôi.
Chí trai vùng vẫy biển khơi
Mà ôm hận với cái tôi giang hồ!

Tiền tài phù phiếm hư vô,
Công danh là thứ để cho đời lừa.
Kém tài - quyền tước bán mua,
Lãng du biết phận, hơn thua làm gì!

Mưu sinh đành bước chân đi
Túi thơ bầu rượu cầu chi sang giàu…
Người yêu ta hỡi, ở đâu
Mai sau? quá khứ? thẳm sâu sơn cùng?
Đời bon chen: mặc! Ung dung
Hiểu ta nhấc chén uống cùng với ta!

Thứ Tư, ngày 29 tháng 6 năm 2016

GIÃ TỪ BẾN CŨ

         
          Bến cũ trăng nghiêng hình cánh võng
          Dòng sông lấp lánh ánh trăng ngân
          Câu hò lỡ bước sang ngang vọng
          Rớm giọt sương khóe mắt giai nhân

          Sang sông nàng nhớ mẹ thương cha
          Ngước mắt nhìn ai giọt lệ nhòa
          Câu hò ai oán ai sầu thảm
          Nặng lòng người mà trĩu cả lòng ta

          Bến cũ còn đây nàng đâu xa
          Trắng sương vương chút ánh trăng tà
          Câu hò năm ấy ghim trong gió
          Giã từ ta tiễn một mình ta.

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 6 năm 2016

ĐÒ LÈN - KÍ ỨC TUỔI THƠ QUÊ NGOẠI CỦA NGUYỄN DUY


ĐÒ LÈN

          Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
          bắt chim sẻ trên vành tai tượng Phật
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

          Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
          chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
          mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
          điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
          bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
          bà đi gánh chè xanh Ba Trại
          Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

          Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
          giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
          cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
          cứ nghe mùi huệ trắng hương trầm

          Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất
          đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
          thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
          bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

          Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
          dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
          khi tôi biết thương bà thì đã muộn
          bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
                                                      9 – 1983

Nguyễn Duy thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Độc giả say thơ anh bởi cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, sử dụng ngôn từ mộc mạc mà rất đỗi tinh tế, tài hoa; trầm tĩnh mà ngang tàng đậm chất lính; cảm xúc và suy tưởng luôn song hành, nhuần nhuyễn, hết sức tự nhiên trong từng câu chữ. Những điều ấy làm nên phong cách Nguyễn Duy mà Đò Lèn là một trong những bài thơ tiêu biểu.
          Bài thơ như một dòng chảy hồi ức từ lúc nhỏ dại đến lúc trưởng thành trong tâm tưởng tác giả. Xuyên suốt dòng chảy ấy là hình ảnh bà ngoại gắn liền với những địa danh ở quê hương cùng với những biến cố lịch sử.
          Về mặt hình thức, bài thơ có 6 khổ, một dấu chấm câu cuối bài thơ, chữ đầu mỗi khổ thơ viết hoa, chữ đầu mỗi dòng thơ viết thường, chắc chắn đây là dụng tâm của tác giả. Mỗi khổ thơ một mẩu chuyện, những mẩu chuyện ấy kết nối với nhau chặt chẽ trong quỹ đạo Đò Lèn.
          Hai khổ thơ đầu, Nguyễn Duy kể chuyện sinh hoạt thuở nhỏ và những ấn tượng lưu lại trong kí ức:
          Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
          bắt chim sẻ trên vành tai tượng Phật
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

          Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
          chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
          mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
          điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
          Những câu thơ giàu hình tượng gợi lên trước mắt người đọc một cậu bé nghịch ngợm, vô tư, hồn nhiên. Câu cá, bắt chim, đá gà, chọi dế là thú vui của những đứa trẻ nông thôn cái thời chưa có máy tính nối mạng internet. Vui hơn là lập được “chiến công” để kể với bạn bè khi hái trộm được trái cây ở vườn nhà nào đó. Câu Thơ:
          và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Nguyễn Duy viết chân thực quá. Hầu như trẻ con ở nông thôn thời bấy giờ là thế cả. Cái tâm lý hồi hộp, lo sợ người lớn bắt gặp giống như trò chơi mạo hiểm, sợ mà vẫn thích chơi. Người viết bài này đã từng nếm trải điều đó nên hiểu được điều tác giả kể. “Anh hùng” là thế nhưng khi bước ra khỏi làng:
          níu váy bà đi chợ Bình Lâm
Cái không gian làng quê ngày xưa hạn chế rất nhiều việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài, do đó đi xa một chút là lo sợ, mà với trẻ con thì sợ nhất là lạc đường. Chi tiết “níu váy bà” cho chúng ta biết khoảng độ tuổi tác giả lúc bấy giờ.
          Hai khổ thơ tiếp theo là những suy tưởng của Nguyễn Duy về hình ảnh người bà. Đây là suy tưởng khi tác giả viết bài thơ này chứ không phải là suy tưởng ở cái thời trẻ con ấy. Ngày bà mò cua bắt ốc, buôn bán chè xanh lúc khuya lúc sớm dưới giá buốt mùa đông năm đói ấy, tác giả vẫn vô tư, hồn nhiên, anh thú thực:
          Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
          bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
          bà đi gánh chè xanh Ba Trại
          Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
          Không một ai, tài thơ đến mấy có thể thay thế “thập thững những đêm hàn” mà giữ được nguyên giá trị nghệ thuật, giá trị biểu cảm của khổ thơ. Từ láy “thập thững” là sáng tạo hết sức độc đáo của nhà thơ nên dù tra từ điển nào cũng không tìm được. “Thập thững” là cách kết hợp của các từ láy “chập chững”, “thập phương”, “thập thò” trên cơ sở chọn lọc ngữ nghĩa phù hợp với văn cảnh. “Thập phương” tương ứng với những địa danh đồng Quan, Ba Trại, Quán Cháo, Đồng Giao…”thập thò” là lúc thấy lúc khuất, “Chập chững” là bước đi không vững. Hình ảnh người bà gánh chè xanh bước thấp bước cao trong đêm giá buốt, nghĩ lại mới thương xót làm sao!
          Tảo tần, cơ cực làm đủ mọi việc, bà cháu nuôi nhau đói vẫn đói. Điểm tựa tinh thần của bà là tiên, Phật, thánh, thần, còn điểm tựa của cháu chính là người bà tần tảo. Nhớ lại thuở ấy, Nguyễn Duy viết:
          Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
          giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần
          cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
          cứ nghe mùi huệ trắng hương trầm
          Tin vào bà là thực, tin theo niềm tin của bà còn mơ hồ, chưa rõ nét lắm. Tiên, Phật, thánh, thần đâu không thấy, chỉ “nghe mùi huệ trắng hương trầm”. Giữa hai bờ thực - hư đó, “củ giong riềng luộc sượng” vẫn là bữa cơm năm đói. Thời đói, ăn cái gì cũng ngon, “củ giong riềng luộc sượng” mà “cứ thơm mùi huệ trắng hương trầm” khác nào giờ đây thưởng thức món ăn đặc sản của đầu bếp trứ danh khách sạn 5 sao chế biến.
          Về thủ pháp nghệ thuật, tài hoa sử dụng phép đối trong khổ thơ rõ ràng, chuẩn mực, cân xứng:
                                                   thực
                                                    bà
                củ giong riềng luộc sương

tiên, Phật, thánh, thần
mùi huệ trắng hương trầm
          Khổ thơ thứ 5, tác giả tiết chế cảm xúc của mình để kể về một biến cố lịch sử: Mĩ ném bom miền Bắc. Có độc giả nói với chúng tôi sao trước nỗi đau mất mát đó mà tác giả kể một cách dửng dưng? Nếm trải những năm tháng hứng chịu mưa bom bão đạn Mĩ hồi đó mới hiểu vì sao tác giả viết như vậy. Mĩ đã từng tuyên bố hủy diệt, đưa miền Bắc trở lại thời kì đồ đá. Nhiều thành phố không còn một viên gạch nguyên vẹn, nhiều làng quê bị xóa sổ. Bệnh viện, trường học, chùa chiền…không nơi nào tránh khỏi bom đạn, thế nên, hồi tưởng về giai đoạn ấy tác giả cố nén cảm xúc chủ quan để làm nổi bật hiện thực khách quan.
          Bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất
          đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
          thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
          bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
          Chữ “tuốt” có thể thay bằng chữ “tất”, lượng thông tin không thay đổi nhưng kém đi giá trị biểu cảm. Những nơi thờ tự, nơi con người gửi gắm niềm tin vào thế giới tâm linh còn bị bom Mĩ giội thì nhà bà ngoại tác giả bay mất cũng có là gì?
          Nơi tới lui với thế giới tâm linh không còn mà cuộc sống vẫn phải tiếp tục. Cũng là “đi” nhưng “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết” – tránh bom đạn Mĩ chăng? còn bà với mưu sinh: “đi bán trứng ở ga Lèn”. Đằng sau những câu từ pha chút hài hước ấy là tình cảm thương xót vô hạn. Trước kia bà chân trần gánh nặng, “thập thững những đêm hàn” có vấp một cái đau buốt đến xương vẫn còn hai chữ bình an thì nay “bán trứng ở ga Lèn” mười phần mạo hiểm với tính mạng. Ga tàu là một trong những trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mĩ.
          Khổ cuối bài thơ tác giả bộc bạch tình cảm của mình với bà trong tiếc thương, hối hận. Cảnh quê ngoại vẫn như xưa nhưng bà đã ra đi mãi mãi. Hai câu kết là lời tâm sự rất chân thành, người đọc nghe như nước mắt đang chảy vào trong:
          khi tôi biết thương bà thì đã muộn
          bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
          Đọc lại lần nữa, chúng ta tự hỏi tại sao Nguyễn Duy không dùng “Hồi ức tuổi thơ”, “Quê ngoại yêu thương”…đặt tên cho bài thơ mà lại dùng Đò Lèn – một địa danh? Trong kí ức của anh phải chăng ga Lèn là nơi bà chịu cơ cực, nguy hiểm nhất? Và đó cũng là cái tên bình dị, một chứng tích đau thương của chiến tranh, nghèo đói một thời khi ta nghĩ về nó? Những câu chữ bình dị hiển hiện trước mắt ta chất chứa đằng sau những tầng bậc xúc cảm, muốn lên được tới đỉnh phải nắm được tay vịn suy tư, đồng cảm, yêu thương mà tác giả đã san sẻ
         Với Đò Lèn, Nguyễn Duy đã đóng góp khối đá quí trong lâu đài văn học nước nhà. Càng ngắm, người đọc càng thấy lấp lánh ánh sắc Việt, thoang thoảng mùi huệ trắng, hương trầm.