Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

LÂM TẶC


CHƯƠNG III

     Đang ngồi phía sau bếp chuốt cái cần câu, ông Tám Cá nghe thấy tiếng gọi:
     - Có bán cá khô...ô...ô...ông, ông Tám?
Thằng Thuộc kéo dài tiếng "không" rồi buông hai tiếng "ông Tám" như người ta đổ câu vọng cổ. Chưa kịp cài mảnh thủy tinh vào vách, nhà bè ông đã rập rình. Đứng dậy, ông đã thấy anh Nghĩa đang với tay kéo  anh Bường.
     - Quên lâm trường thật rồi, anh Nghĩa? Ông Tám Cá hỏi thay cho lời chào.
     - Sao quên được, mới ghé qua lâm trường. Hôm nay đến ông nhậu cho tới trưa mai luôn.
     - Tưởng gì, cao lương mĩ vị tiếp khách hàng tỉnh không có, chứ gà và cá anh nhậu với tôi cả năm.
     - Trên đời này không ai sướng bằng ông. Chỉ vua chúa ngày xưa mới được ăn cá anh vũ, còn ông muốn là có, phải không?
     - Anh nói quá rồi. Bây giờ cá đâu còn như ngày xưa, nhưng hôm nay tôi đãi anh loại cá, mà theo tôi còn ngon hơn cá anh vũ.
     - Cá cọm phải không chú Tám? Ông Tám Cá gật đầu.
     - Sao anh Bường biết? Ông Nghĩa hỏi.
     - Thì tôi được thưởng thức mấy lần rồi. Ông Bường trả lời.
Ông Tám kéo cái rặc cá trong lồng lên. Những con cá bằng đầu ngón tay út, dài độ mười phân nhảy lách chách, vảy ánh lên lấp lóa dưới ánh nắng mặt trời. Rặc cá hơn 2 kg. Ông Bường hỏi:
     - Đâu mà nhiều dữ, chú Tám?
     - Tôi và thằng Quân câu hôm qua. Nó sát cá còn hơn tôi. Ông quay sang Thuộc:
     - Chú lên trại hái ít lá gừng, nhổ củ nghệ rồi bắt con gà xuống đây luôn thể.
     - Gà chi cho mất công, chừng này nhậu ớn.
     - Là tôi phòng có thêm khách.
Ông Bường kể với ông Nghĩa về cách bắt loại cá này, chỉ duy nhất là câu thôi, ngoài ra không có cách nào khác. Loại cá này sống ở nơi nước chảy không xiết, không chậm và ở độ sâu từ quá gối đến ngực. Chúng gặm rêu non trên đá cuội tầm độ chín giờ sáng đến ba giờ chiều. Mùa nước trong đôi khi người ta thấy lấp lóa ánh bạc do vẩy cá phản chiếu ánh sáng mặt trời. Cần câu phải chuốt nhỏ, cỡ đầu đũa, cước dùng loại mảnh nhất. Lưỡi câu phải uốn chứ thị trường không có bán và không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để uốn lưỡi câu. Thường thì người ta uốn bằng kim may, vừa hơ lửa trên ngọn đèn Hoa Kỳ vừa dùng cái panh y tế loại nhỏ nhất để uốn. Thép kim cứng, không cẩn thận, nhẹ nhàng là gãy ngay, cả tiếng đồng hồ mới uốn được một cái. Lại nữa, khi câu giật không khéo, vướng một tí là gãy. Rồi mồi câu phải ngược suối tìm rêu đá non. Do quá kỳ công nên dọc con sông Gâm này số người biết câu cá cọm tính không hết bàn tay.
     Ông Tám Cá giã nắm ớt xanh, muối, nghệ trộn đều với lá gừng thái nhỏ. Ông Bường tiện ống nứa có nắp đậy, dùng mũi dao ngoắy một lỗ nhỏ trên nắp. Xong xuôi, ông lấy một phần ba gia vị ông Tám Cá làm sẵn, cho vào ống nứa rồi cho tiếp cá vào. Cứ một lớp gia vị một lớp cá.
     - Có cần cho thêm chút nước trà không, chú Tám?
     - Mình nướng từ từ nên không cần anh ạ.
Bắc nồi cháo lên bếp, gạt than, kê xéo ống cá lam, vài phút ông Tám lại xoay một phần tư ống. Độ nửa tiếng, mùi cá đã thơm lừng.
     - Thơm quá, chín chưa anh Tám? Thuộc hỏi.
     - Độ 15 phút nữa, chú dọn chén dĩa là vừa.
Ông Tám Cá lấy ra một bầu rượu, nói với Thuộc:
     - Hôm nay có anh Nghĩa, anh Bường, nhậu theo lối các cụ nhé.
Thuộc hiểu ý. Tửu lượng anh Nghĩa khá nhưng không bao giờ anh uống đến "sần" chứ nói chi say. Uống để nói chuyện, để tâm sự cho có "không khí", chứ uống rồi mượn chén, lè nhè là anh rất ghét.
     Ông Bường đổ một phần cá ra dĩa rồi đậy nắp lại, để ống cá lam cạnh bếp. Chưa bao giờ ông Nghĩa thấy mùi cá thơm đến thế. Uống ly rượu, ông ngạc nhiên:
     - Rượu gì mà "ác" quá, chú Tám?
     - Rượu nếp và ý dĩ, anh ạ. Tháng trước, già Bân bên Yên Sơn gửi cho tôi.
     - Hạt ý dĩ người ta làm thuốc, còn già Bân nấu rượu, trời đất!
Thuộc nhấp một ngụm. Hơi rượu nồng nhưng đằm và thơm lắm; nuốt xong nghe ngòn ngọt ở cổ họng, tê tê đầu lưỡi, uống tới đâu biết tới đó. Gắp một con cá, cắn một nửa, chầm chậm nhai. Vị ngọt dai của cá, vị cay cay của ớt quyện lẫn mùi lá gừng tạo nên hương vị thơm ngon khó tả, nói như ngôn ngữ đời sống là "trên cả tuyệt vời", Thuộc nghĩ.
     Nồi cháo nhừ, ông Bường kéo rặc, tắc mớ cá còn lại vào rá, đổ vào. Để cháo sôi bùng trở lại, ông dụi lửa, thái nắm hành hoa nêm vào rồi múc một chén cho anh Nghĩa.
     - Ăn chút đã anh.
Ông Nghĩa múc một thìa cháo. Vị dẻo ngọt của gạo nương, vị béo và dai của cá, thơm thơm của hành hoa, rồi làn gió sông mát rượi, tiếng sóng vỗ bờ êm êm, sàn bè lắc lư theo nhịp sóng nhè nhẹ, rồi những gương mặt bạn bè thân thương làm ông quên hết những ưu phiền. Tình nghĩa bạn bè làm cho món ngon lại càng ngon hơn. Ông sống giản dị, ăn uống đạm bạc. Ở tỉnh, đôi lúc phải tiếp khách khứa, ăn những món ăn chế biến cầu kì trong những nhà hàng sang trọng, thật lòng mà nói cũng ngon đấy nhưng vẫn cứ khách khí, nhàn nhạt làm sao. Còn ở đây, xứ đồng rừng này, bạn bè đãi ông món ăn chế biến không thể đơn giản hơn mà ngon gấp vạn lần. Miếng ngon phải thấm tình người. Nghĩ thế, nhìn bạn bè, ông thấy cay cay sống mũi.
     - Ăn chứ anh Nghĩa, nghĩ gì thế? Ông Tám Cá hỏi.
     - À không, mà này, sao không để dành ít cá cho đám thằng Quân?
     - Tụi nó xẻ gỗ ở Pắc Có, tuần sau mới về.
     - Mình chưa biết mặt mũi nó, tính bắt rể à?
Ông Tám Cá cười:
     - Được thế thì còn gì bằng. Thời này, "con đặt đâu cha mẹ ngồi đấy" anh à.
     - Không biết nó học ở đâu mà chuyện chi cũng giỏi. Thuộc đế thêm vào. Rồi anh kể chuyện chuyến tàu mắc cạn. Nghe xong chuyện Thuộc kể, anh Nghĩa hỏi:
     - Mà sao nó kêu ông bằng sư phụ?
Uống một ly rượu, ông Tám Cá chậm rãi kể:
     Năm 1972 tôi bị thương trong trận đánh Dốc Miếu, Quảng Trị. Ra bắc, vết thương tạm lành, năm 73 tôi về an dưỡng Đoàn 200 Phủ Quỳ. Cứ chiều chiều tôi đi câu cá, ít thì cho dân, nhiều thì đưa về cho mấy đứa nhà bếp nấu canh chua. Đi câu là một chuyện, còn một mục đích khác của tôi là dọ tìm gia đình một đồng đội đã hy sinh. Anh ấy khác tiểu đoàn, cũng quen nhau nhưng không thân lắm, chỉ biết địa chỉ, quê quán, thế thôi. Nhưng từ khi anh hy sinh tôi thầm nhủ thế nào cũng phải tìm bằng được gia đình anh ấy. Anh hy sinh để chúng tôi sống. Trận đánh đêm hôm ấy, anh trực tiếp xuống đi cùng tiểu đội được phân công đánh sở chỉ huy. Hiệu lệnh là giờ G, khi nghe tiếng bộc phá ở sở chỉ huy địch nổ là bên tôi tấn công vào trại lính biệt động. Chúng tôi cắt cửa mở chậm nên khi bộc phá nổ đội hình mới vào được một nửa. Ném đươc chục trái lựu đạn, bắn được vài loạt chúng tôi phải rút. Phía cửa mở chúng tôi bị lộ, địch khống chế nên tôi đành kéo số anh em đã vào vừa đánh vừa rút sang phía cửa mở bên anh. Gần tới cửa mở, chúng phát hiện, bắn loạn xạ. Tôi bị thương ở vai trái và sườn bên phải. Anh Tính trườn lại lấy cơ số đạn còn lại của tôi, ra lệnh tất cả anh rút, đưa tôi ra và ba chiến sĩ bị thương khác ra khỏi trận địa; còn anh vòng lại, đánh vào mấy ổ hỏa lực của địch. Lúc ấy tôi ngất đi, đến khi tỉnh lại thì đã nằm ở trạm quân y tiền phương. Mấy hôm sau, Toàn, một đại đội phó của tiểu đoàn anh, đến thăm tôi, cho tôi hay anh đã hy sinh. Đêm hôm sau, dù đơn vị cấm, nhưng Toàn vẫn mò vào tìm anh thì thấy xác anh bên cạnh lô cốt sở chỉ huy. Cẩn thận, từ từ từng chút một, Toàn gỡ được quả lựu đạn và tháo dây điện quả mìn Claymo chúng gài dưới xác anh, đem anh ra chôn dưới một gộp đá. Toàn tả tỉ mỉ địa điểm gộp đá cho tôi, mong rằng sau cuộc chiến này đứa nào sống thì đem anh về quê. . 
     Cho đến một buổi chiều, trên đường đi câu về tôi gặp một cậu học sinh đang đánh nhau với 3 thằng công nhân cầu đường. Cạnh đấy, một cô gái tay ôm ngực giữ mảnh áo bị rách khóc tức tưởi. Quẳng giỏ cá, tôi xông lại tính kéo cậu học trò ra thì một thằng nói: "chơi luôn thằng này". Vừa nói nó vừa vung tay đấm thẳng vào mặt tôi. Nghiêng đầu cho cú đấm trượt qua, tay phải tôi vuốt nhẹ, nắm cổ tay hắn, bước chân trái lên, xoay mình, dùng cạnh ngoài cẳng tay trái đánh mạnh lên phía trên gối tay phải hắn. Khi hắn gập mình vì tay bị khóa, tôi đá bằng mu bàn chân phải vào bụng hắn thay vì bằng ức bàn chân rồi tiện đà dùng gót bàn chân đập xuống bả vai thay vì đập vào gáy, đồng thời buông luôn cổ tay hắn. Nói thì dài nhưng thế đánh liên hoàn đó nhanh lắm. Khi đồng bọn bị tôi đánh ngã, 2 thằng còn lại cùng lúc nhảy vào, tôi rùn mình xuống, né cú đánh của chúng đồng thời tung ra cùng lúc hai cú đấm "song long xuất thế", cả 2 thằng ngã nhào.
     Khi cả 3 thằng mất dạy bỏ đi, nhìn mặt cậu học sinh bê bết máu, hỏi chuyện mới biết 3 thằng ôn dịch sàm sỡ cô gái, đi ngang qua cậu can ngăn thì bị chúng đánh và cậu đánh lại. Cậu ta nhìn tôi với ánh mắt thán phục:
     - Cảm ơn chú đã cứu giúp. Chú đánh hay quá, giá mà cháu biết võ như chú.
Tôi bảo cậu ta đi rửa mặt, không quên mục đích của mình, tôi hỏi cậu có biết gia đình anh Tính. Thật bất ngờ, cậu học sinh ấy là con anh Tính, đang học lớp 9 trường cấp III vừa học vừa làm Khe Đổ. Thế là từ đó, lúc rảnh tôi đến nhà anh Tính. Hoàn cảnh gia đình anh thật tội. Có việc gì tôi làm việc đó, rảnh rổi dạy võ cho cậu ta. Quân sáng dạ, học nhanh lắm, tôi dạy cậu cho đến tháng 4 năm 75 thì tôi ra quân và cũng lúc cậu ta nhập ngũ. Lẽ ra không phải nhập ngũ vì con liệt sĩ, nhưng cậu nài nỉ quá, chị Tính chiều con, xin mấy anh huyện đội, nên nó nhập ngũ, binh chủng đặc công. . .
    Mọi người đang nghe chuyện Quân thì Huy và Trọng Hói đi ca nô tấp vào.
     - Anh Tám Cá, cho nhậu với.
Ông Tám nói vọng ra: 
     - Vào đây. 
Còn ông Bường lẩm bẩm: " Rõ là, khách không mời mà đến còn tệ hơn giặc Tác ta".

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Hai lối triền đê


                                                          Mượt mà xanh cỏ triền đê
                                                   Anh từng rình bước đi về của em,
                                                         Cánh diều ngưng gió chao nghiêng
                                                   Dòng sông lười biếng êm đềm nhẹ trôi. . .
                                                          Áo chiết eo, đỏ làn môi
                                                   Tóc mai đọng giọt mồ hôi nắng hè
                                                          Sáng trong đôi mắt chân quê 
                                                    Nụ cười em lạc lối về hồn anh

                                                          Thầm yêu  thuở tóc còn xanh
                                                    Đến khi đầu bạc vẫn đành. . . thầm yêu!
                                                          Triền đê vi vút sáo diều
                                                    Chiều nay chiều vẫn như chiều ngày xưa,
                                                          Cỏ may níu bước chân qua
                                                     Còn ta níu kỷ niệm xa ngậm ngùi.

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

LÂM TẶC

CHƯƠNG II

      Lâm tường Bình Minh cách sông Gâm chừng 2 km, bãi gỗ nằm cạnh suối Lồ nên việc chuyển gỗ ra bến sông rất thuận tiện. Man Hoa hái hơn kg nấm mèo từ mấy súc gỗ mục, những tai nấm cỡ miệng ly uống nước cô bỏ lại, "để cho lớn, trước sau gì mình cũng hái", cô nghĩ.
     Cạnh mấy khúc gỗ mục là gần trăm hộp gỗ xẻ dài ngắn dày mỏng đủ kiểu. Ông Bường vần hết hộp gỗ này đến hộp gỗ khác, vừa đo vừa ghi chép vào cuốn sổ học trò. Xong việc, ông gọi:
     - Man Hoa, cháu tính giùm khối lượng cho bác cái.
     - Cháu tưởng bác tính xong rồi chứ.
     - Bác chỉ đo chiều rộng, chiều dài, gáy của hộp gỗ là bao nhiêu thôi. Bác tính chậm lắm.
     - Vậy hồi trước ai tính cho bác?
     - Thì ông Trí, ông Minh chứ ai,  bác ghi rồi họ tính.
Cầm cuốn vở ông Bường đưa, Man Hoa hỏi:
     - Sao bác không ghi chủng loại gỗ?
     - Ông Minh nói không cần ghi.
     - Không ghi thì làm sao tính tiền cho thợ cưa? Xẻ gỗ sâng, gỗ sến giá cả khác gỗ chò, gỗ sao, xoan đào chứ?  
     - Ông Minh bảo sẽ tuyển dụng họ làm công nhân nên trả lương tháng.
Man Hoa nghĩ nếu tính như vậy thì lâm trường quản lý, báo cáo với tỉnh ra sao? Số gỗ này mới chỉ riêng nhóm anh Quân thôi, còn các nhóm khác nay mai đưa về nữa thì sẽ như thế nào nhỉ. Nhìn những hộp gỗ toàn lõi, mặt gỗ phẳng lì, mấy hôm nay phơi mưa phơi nắng, Man Hoa nói:
     - Thôi bác chịu khó ghi lại chủng loại gỗ. Cháu kéo mấy tấm phên nứa, lá cọ che đống gỗ. Để thế này vài hôm nữa rồi nứt nẻ, uổng quá thôi.
     Tiếp xúc với Quân chưa nhiều nhưng cô thấy ở anh có cái gì đó làm người ta tin tưởng được. Quân ít nói, không lém lỉnh như "đệ tử" Nam "cuội". Mấy ngày chưa vào lâm trường làm việc, ở nhà cô, mấy anh Chính, Ngọc, Nam, Dũng không trà lá tán gẫu thì đánh cờ, đánh bài tiến lên, còn anh Quân lôi sách ra đọc. Man Hoa cũng thích đọc sách nhưng không "nghiện" như anh Quân. "Một ngày không đọc được ba, bốn chục trang sách là thấy thiêu thiếu một cái gì đó", Man Hoa nhớ lại lời anh nói. Mới một tháng làm việc mà số lượng gỗ xẻ như nhóm anh Quân giao đúng là kỷ lục. . . 
     Bác Bường ghi xong nhóm gỗ, phụ Man Hoa che đống gỗ. Chiều nay anh Quân về sẽ thấy thành quả lao động của anh được bảo vệ, Man Hoa thấy vui vui. Xong công việc Man Hoa đưa bịch nấm mèo cho bác Bường:
     - Bác đem về phơi nhé.
     - Sao không mang về cho chú Tám?
     - Nhà cháu còn nhiều. Hôm nào rảnh cháu đi lấy măng cùng bác nhé?
     - Ừ! Chiều về cầm cặp gà cho chú Tám cùng đám thằng Quân nhậu.
     - Ôi, bác không biết thôi, cháu nuôi hơn năm chục con ở trại ấy, thôi chiều nay bác ra nhà cháu, thế nào cũng có cá, còn gà thì sẵn.
Ông Bường nghĩ Tám Cá thật là có phúc. Man Hoa vừa đẹp người, đẹp nết, việc chi cũng khéo léo, nhanh nhẹn. Nó mới về làm việc ở lâm trường mấy tháng mà coi bộ giám đốc Minh "chột" không ưa vì kỳ đà cản mũi từ việc lớn đến việc nhỏ. Nhẹ nhàng mà sâu sắc, chân thành mà nguyên tắc, đấu tranh đến nơi đến chốn. Ông thấy cái sai đó mà sao không nói rành rẽ được, với lại, còn nửa năm nữa là về hưu nên ông tắc lưỡi cho qua, nhiều lúc ông thấy xấu hổ vì không được như con bé. Ở cái tỉnh này, có bao nhiêu lâm trường là ông có mặt hết, ít nhất cũng hai năm. Riêng cái lâm trường Bình Minh này ông gắn bó với nó từ khi mới thành lập, tính đi tính lại cũng đã mười lăm năm, ba đời giám đốc. Trước khi bàn giao chức vụ giám đốc lại cho Minh "chột", lên tỉnh nhận nhiệm vụ mới, trong một bữa rượu chỉ hai anh em, ông Nghĩa nói: "Tôi lên tỉnh nhưng lòng không yên với lâm trường mình. Thằng Minh "chột" tham lam, liều lĩnh, thằng Trí "vịt" vừa tham vừa láu cá. Hai thằng này, anh biết đấy, con ông sáu cháu ông tư cả. Có việc gì chúng làm sai anh phải nói thẳng, cản không được thì viết thư cho tôi". . . Năm ngoái, khi bọn Tàu đánh sang Hà Giang, phần lớn công nhân bỏ về xuôi hết; thằng Trí "vịt", thằng Minh "chột" chạy đầu tiên. Bộ đội ta phản công, bọn Tàu rút, yên trở lại hơn tháng mới thấy mặt hai ông trong Ban gám đốc trở lại. Công việc đầu tiên của Minh "chột" và Trí "vịt" là bán hàng trăm khối gỗ tốt cho dân buôn bè Sơn Tây, Thái Bình. Tiếp sau đó hợp đồng nhân công lao động cho lâm trường không trả bằng tiền mà bằng sản phẩm, tức là trả bằng gỗ. Lập tức lâm trường có số nhân công hợp đồng gần trăm rưỡi người. Cả hai việc này ông viết thư cho ông Nghĩa. Ông Nghĩa báo cấp trên xin lập đoàn kiểm tra, dây dưa việc này việc nọ đến khi có quyết định đã hơn tháng. Trước khi đoàn kiểm tra lên hai ngày, số "công nhân" hợp đồng này xuôi bè hết. Không biết đoàn kiểm tra làm việc như thế nào, nửa buổi chiều lên lâm trường, tối nhậu với Ban Giám đốc một bữa, sáng hôm sau kéo nhau về thị xã. Hai ngày sau, Minh "chột", Trí "vịt" lên lâm trường mặt mày phởn phơ. Gặp ông, Trí "vịt" nháy mắt, cười đểu: "Anh Bường còn năm nữa nghỉ hưu nhỉ, mấy anh trên tỉnh nói nếu cần cho anh nghỉ ăn lương hẳn hòi, đến ngày lĩnh sổ hưu. Anh tuy không có chức tước gì nhưng đóng góp cho ngành quá nhiều mà". Còn Minh "chột" vứt tàn điếu thuốc Samit, nhổ bãi nước bọt: "Ốc không mang nổi mình ốc lại còn lo cọc rêu". Chừng nửa tháng sau Tám Cá nhắn người kêu ông ra nhà bè nhậu, đưa cho ông phong thư của anh Nghĩa. Anh Nghĩa xin lỗi ông vì không lột mặt được bọn Minh Chột, Trí Vịt. Anh nói đau ở chỗ kết luận của đoàn kiểm tra: "Vụ việc bán gỗ ở lâm trường Bình Minh là không có cơ sở. Số gỗ thất thoát là do lâm trường chạy giặc, không ai bảo quản nên mất trộm. Vụ việc trả lương bằng sản phẩm của Ban Giám đốc lâm trường là sáng tạo khi chưa được cấp đủ kinh phí hoạt động; số người hợp đồng được trả theo sổ sách và thực tế là 28 người; nay số công nhân đó đã tự ý bỏ việc vì quá khó khăn". . .. Sau kết luận của đoàn kiểm tra, anh Nghĩa "được" điều về làm phó chủ tịch mặt trận tỉnh. Anh viết trong thư: "Dù thế nào, ở cương vị nào cũng đừng từ bỏ con đường đã chọn anh Bường nhé". . . 
     Đang lúi húi cưa mấy ống bương để vào đất dâm mấy chục mầm lát hoa trong vườn ươm, ông giật mình khi nghe tiếng: "Chào anh Bường". Quay lại, thấy Huy, trạm trưởng trạm kiểm lâm sông Gâm, ông gật đầu, đứng dậy bắt tay.
     - Anh ươm giống lát này làm gì, ươm đã khó, trồng rồi chăm sóc cũng khó. Trồng sống được chí ít 50 năm mới khai thác được.
     - Thì công việc mà anh.
     - Thôi, nghỉ tay, hôm nay tôi và Trọng Hói được lời mời của ông Minh lên chơi. Ra đây, trước là để thăm anh, sau là chuyển lời của ông Trí mời ông vô phòng họp nhậu cùng.
     - Thật xin lỗi anh, chiều tối nay tôi có hẹn với chú Tám Cá rồi, anh nói lại anh Trí giùm tôi nhé.
     - Thì đành vậy, cho tôi gửi lời thăm anh Tám Cá, ngoài đó tàn cuộc sớm thì về nhậu tiếp nhé, kéo theo được anh Tám Cá càng vui.
     Huy bắt tay ông rồi trở về dãy nhà làm việc của Ban Giám đốc. Trước đây, khi anh Nghĩa còn làm giám đốc, Huy có đến lâm trường làm việc vài ba lần. Từ ngày anh Nghĩa lên tỉnh, Huy đến thường xuyên hơn. Linh tính như mách bảo ông hình như rồi sẽ có chuyện gì sắp xảy ra đây.

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

LÂM TẶC


CHƯƠNG I
     Một ngày tháng 4 năm 1980. Sông Lô nước cạn, chảy xiết. Con tàu chở khách đi Chiêm Hóa ì ạch ngược dòng.
     Phía trước mũi tàu, năm người đàn ông ngồi uống rượu. Đồ nhắm là mấy củ lạc sống. Man Hoa ngạc nhiên khi một người đàn ông bận bộ đồ quân phục bạc phếch, hai tay đưa bát rượu mời một chàng trai độ hai ba hai bốn tuổi.
     - Mời đại ca. Mẹ kiếp, sao hôm nay đại ca buồn thế, hay nhớ con bé chủ quán trọ đêm qua?
     - Mày có câm cái mồm đi không, thằng Chính. Gần bốn mươi tuổi đầu mà ngu như bò. Một người đàn ông có bộ râu quai nón lên tiếng. Chàng trai cầm bát rượu uống cạn một hơi, nhìn người đàn ông râu quai nón nói:
     - Anh Ngọc, anh Chính uống ít thôi, rượu không có mồi hại dạ dày lắm. Với lại, mình ra mắt chú Tám Cá với bộ mặt sần sần coi không tiện.
     Lạ quá, người thanh niên nhắc tới tên Tám Cá có phải là nói tới cha cô không nhỉ. Hôm qua ông bảo cô xuôi Tuyên Quang mua mấy tấm lưới dậu 6, cây thuốc chữ A đỏ để hôm nay ông tiếp khách? Mải vẩn vơ suy nghĩ Man Hoa giật mình khi mũi tàu trườn lên doi cát ngầm rồi dừng lại. Tài công đạp hết ga con tàu vẫn không nhúc nhích.
     - Đừng đạp ga nữa, anh muốn ngủ đêm ở đây à. Chàng trai "đại ca" hét lớn. Nói rồi chàng trai vọt tới buồng lái.
     - Anh mà đạp ga chân vịt bị cát trói đấy. Bây giờ anh quay vô lăng hết cỡ sang bên phải, khi không quay được nữa thì đạp hết ga.
     - Cậu biết lái à? Người lái tàu hỏi.
     - Tôi biết qua sách. Anh làm nhanh đi, chậm là mắc cạn ngay đấy.
Tài công làm đúng lời chàng trai, con tàu rùng mình, đuôi từ từ lấn về bên trái, đuôi càng lấn về bên trái con tàu càng nghiêng về bên phải. Hành khách hoảng loạn chạy nháo nhào trên boong tàu: "Coi chừng tàu lật". Tiếng lật chưa dứt hơn chục người té nhào phía bên phải, có người suýt rơi xuống nước. Thì ra, đuôi tàu lấn sang trái, con tàu gần như vuông góc với dòng chảy, thành con đập. Cát giữ tàu, nước xô tàu. sau vài phút cầm cự, nước thắng cát, đẩy con tàu ra khỏi doi cát. Đang nghiêng bên phải vì cát, bị nước đẩy, hổng bậc, con tàu trước khi lấy lại thăng bằng, theo quán tính chao nghiêng sang phía bên trái bất ngờ quá nên nhiều người ngã chỏng gọng. Lúc này, tiếng cười, tiếng nói rộn lên cả khúc sông. Người nói thành lời, người bằng ánh mắt cảm ơn hướng về chàng trai trẻ.
     Khi con tàu ung dung trong lạch, trao lái cho tài phụ, anh tài công bước ra khỏi ca bin, bắt tay chàng trai:
     - Cậu giỏi quá, cảm ơn nhiều. Không có cậu thì hành khách phải ngủ đói đêm nay rồi. Tối nay uống với tớ một bữa nhé.
     - Cảm ơn anh, tôi xuống dọc đường chứ không lên Chiêm Hóa. Anh có biết nhà bè chú Tám Cá ở đoạn nào không?
     - Chừng tiếng nữa là tới. Nhà bè anh Tám Cá bọn tớ ghé luôn. Có bữa tớ ở lại nhậu với ổng, hôm sau tàu xuôi ghé vào rước.
     - À mà cậu tên gì? Sao biết anh Tám Cá? Thôi thế này vậy, tối nay tôi ở lại uống với cậu một chầu. Hồi sáng thấy cậu uống có mã quá.
     - Tôi tên Quân. Chú Tám Cá là sư phụ của tôi.
     - Hèn gì! Không hổ danh đệ tử Tám Cá.
     Hóa ra anh chàng thanh niên ấy tên là Quân, người mà Man Hoa nghe cha "dọa" gả. Có lẽ Quân cao gần mét bảy, ngực nở, dáng rất đàn ông. Khuôn mặt chàng đẹp, môi đỏ, mũi thẳng, mắt sáng, đôi lông mày mượt đen xếch lên nên nhìn thoáng qua có vẻ lạnh lùng. "Không biết đã bao nhiêu cô gái "chết" vì anh ta", Man Hoa thầm nghĩ. Thì đấy, mới một đêm ở trọ mà cô chủ quán trọ có ý tứ gì mà anh Chính cùng đi nói lúc nãy đó thôi. . .
     Một hồi còi tàu vang lên, ông Tám Cá đứng đầu nhà bè ra hiệu cho tài công. Sóng con tàu làm làm nhà bè vốn đã dập dềnh càng dập dềnh hơn. Tàu chưa dừng hẳn, Quân đã nhảy xuống, ôm lấy ông:
     - Sư phụ. Con nhớ sư phụ quá.
Ôm Tám Cá nắm chặt vai Quân đẩy ra, nhìn từ đầu đến chân, cười:
     - Được lắm, rắn rỏi hẳn lên.
     Chiều tối hôm đó, ông Tám Cá đãi Quân cùng đám đệ tử và tài công cá rầm xanh lam trong ống nứa, canh măng đắng và thịt mang nướng. Gần tàn bữa rượu, Man Hoa mang lên mấy ống cơm nếp lam. Cô chẻ ống nứa gọn gàng, khéo léo tước từng thanh nứa. Mùi cơm nếp thơm ngào ngạt. Chính cứ hít hà: "Thơm quá, thơm quá". Thỏi cơm trắng được bọc trong màng nứa mỏng, dẻo, ngọt và ngầy ngậy béo. Gắp miếng cá rầm xanh bỏ vào bát Quân, Thuộc - tài công tàu khách, bảo:
     - Cá rầm xanh dưới Việt Trì cũng có, nhưng ngon nhất vẫn là đoạn ngã ba sông Gâm đổ vào sông Lô trở lên. Các chú ở qua mùa lũ chắc thế nào cũng được thưởng thức cá quất, có duyên thì được ăn cá anh vũ, phải không anh Tám? Rít một hơi thuốc, ông Tám Cá nói:
     - Ở Họng Bọt còn hai đàn anh vũ, mỗi đàn hơn hai chục con. Khi nào bắt, tao để dành cho bà cụ mày một con.
     - Anh nói chuyện chim trời cá nước cứ như chim trong lồng, cá rộng trong lu vậy.
     - Mày thấy tao sai hứa lúc nào chưa?
     - Chưa.
     - Chim thì không dám nói, chứ cá tao nói là có, có như vậy tao mới phải gánh thêm cái biệt danh là "cá" chứ. Thấy cha lắc lắc bầu rượu, Man Hoa vào bếp lấy thêm một bầu. Cầm bầu rượu, ông nói:
     - Con lên trại ngủ. bát chén mai rửa cũng được.
     Man Hoa cúi đầu chào mọi người, miệng hơi hé cười rồi bước lên cầu dẫn. Quân nhìn theo, cầu dẫn bập bềnh theo nhịp nhà bè nhưng cô bước nhẹ nhàng, khoan thai như đi trên đất bằng vậy.

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Chuyện vui câu đối nghề giáo

     Trong đời sống văn hóa, nói về câu đối có câu đối tết, có câu đối trang nghiêm, thành kính nói chí hướng hay tổng kết cuộc đời oanh liệt của nhân vật lịch sử, thường được khắc ghi, chạm trổ, treo trang trọng hai bên bàn thờ, chẳng hạn câu đối ở đền Quan Vũ: "Sinh Bồ Châu, trưởng Giải Châu, trấn Kinh Châu, chiến Từ Châu, vạn cổ thần châu hiển hách / Huynh Huyền Đức, đệ Dực Đức, thích Mạnh Đức, cầm Bàng Đức, thiên thu trí đức vô song"; cũng có câu đối răn đời, tiếu lâm, không sơn son thếp vàng nhưng sống mãi với thời gian qua truyền khẩu, ví như câu đối của thầy đồ đáp lại lời mai mỉa của ông vạn chài: "- Chữ nghĩa văn chương không bằng xương con cá lẹp / - Khéo chài khéo lái không bằng hòn dái học trò".
     Có thầy giáo, bạn nhà thơ Đồ Phồn, gợi ý ông viết bài thơ về Vũ trọng Phụng, một tác giả cả hai mến mộ. Đồ Phồn không có tài làm thơ tả chân dung nhân vật như Tố Hữu, nên ông viết câu đối. Thầy cô giáo khi dạy về tác gia Vũ Trọng Phụng có thể đọc cho học sinh nghe: 
     - Cạm bẫy người, tạo hóa khéo giăng chi? Qua Giông tố tưởng nên người Số đỏ.
     - Số độc đắc văn chương trúng thế ? Nỡ Dứt tình, Không một tiếng vang!
     Vào đầu thập niên 80 thế kỷ trước, ông Nguyễn Tài Đại, Trưởng ty Giáo dục Nghệ An phân công giáo viên lên giảng dạy ở các huyện miền núi rất khó khăn, trong đó có huyện Tân Kỳ. Trăn trở mãi về việc này, ông nảy ra một vế đối: 
     - Ty cần thì đi Tân Kỳ.
Rồi ông nói đùa rằng ai trong số những người phải đi Tân Kỳ đối được thì ông bố trí nơi khác. Một cô giáo trẻ "liều mạng":
     - Ai động gì đến ông Đại!
Vế đối khá hay nhưng "phạm thượng", nghe cô trình bày hoàn cảnh, ông Trưởng ty đành phải giữ lời hứa, cho dù ông  nói đùa.
     Cũng khoảng thời gian ấy, ngành giáo khổ quá, hai chữ "Sư phạm" được dân gian chiết tự ra "ăn sư ở phạm", nghĩa là ăn như nhà tu hành (sư), ở như tù nhân (phạm). Vì vậy mới có câu đối:
     - Thầy giáo tháo giày đi dép lốp.
     - Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Sau này, câu đối đó được "phát triển" lên, vế ra là của một cán bộ giảng dạy trường ĐHSP Vinh, vế đối là của GS Văn Như Cương. Nói về GS Văn Như Cương có khá nhiều giai thoại, ông là người tài hoa, uyên thâm nhiều lĩnh vực, vì thế sinh viên tôn vinh ông bằng một vế ra mà cho tới hiện nay tôi chưa được nghe vế đối: "Văn Như Cương, Toán như Cương, Lý như Cương, Hóa vừa nhu vừa Cương!". 
     Từ Hà Nội về lại Trường ĐHSP Vinh thỉnh giảng, GS nhận được vế ra câu đối từ một cán bộ giảng dạy:
     - Thầy giáo tháo giày, tháo cả ủng - thủng cả áo, lấy giáo án dán áo.
Vế ra hay quá, GS nghĩ mãi mà vẫn chưa tìm ra vế đối, toàn là nói lái mà khoa ngữ một chút về nghề giáo lúc bấy giờ. Cho đến lúc trở ra Hà Nội, qua Quỳnh Lưu, không biết địa danh có gợi ý cho GS hay không mà ông đối được vế ra, khá chỉnh, nhưng cũng theo ông vẫn chưa hay so với vế ra:
     - Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa - nhòa cả hương, ôm lương hưu lưu hương.
     Từ xưa, cha ông ta đã có  câu "Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò". Có lẽ buồn vì học trò, bức bối với xã hội, nên khi làm Đốc học ở Mỹ Lương, Cao Bá Quát viết câu đối, đọc nghe tức cười nhưng khó hiểu hết ẩn ý trong đó:
     - Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
     - Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.
     Cũng có những câu đối, vế ra có thể có nhiều vế đối, không biết có chủ quan không, tôi thấy câu đối dạng này thường có "phong cách" Hồ Xuân Hương. . . Câu chuyện sau đây là một ví dụ:
     Chuyện kể rằng có thầy giáo bộ môn Sinh vật (bây giờ đổi là Sinh học rồi), chăm vợ sinh. Công việc quạt than, giặt giũ vừa xong thì anh bạn học thời phổ thông làm nghề buôn bán đến rủ đi uống cafe. Chủ quán cafe cũng là bạn học nên chuyện trò khá rôm rả. Chuyện trò một lúc, đề tài chuyển sang câu đối lúc nào không hay, anh bạn tiểu thương khởi xướng:
     - Tớ ra câu đối, hai cậu đối được thì trưa nay tớ chịu một chầu nhậu tới bến, còn không ngược lại nghe. Không cần biết hai ông bạn có đồng ý hay không, nháy mắt với chủ quán cafe, anh ta đọc:
     - Thầy Sinh vật vật cô Sinh vật, vật rồi lại sinh, sinh rồi lại vật.
Bị 'chơi khăm", nhưng may anh bạn làm nghề buôn bán nhỏ, nên thầy đối lại cũng bằng cái "logic" ấy, có điều "độc" hơn:
     - Anh tiểu thương lấy chị tiểu thương, thương vào chỗ tiểu, tiểu vào chỗ thương.
Tất cả cười xòa, chủ quán cafe hưởng ứng:
     - Anh cafe ôm chị cafe, cà rồi lại phê, phê rồi lại cà.
Có ông khách cafe một mình, qua giọng nói biết là người xứ Hà Nam Ninh, thấy vui quá, xin được tham gia:
     - Anh chồng chọt (trồng trọt) lấy chị chồng chọt, chọt rồi lại chồng, chồng rồi lại chọt..
Không biết ông khách có được mời nhậu trưa đó không, nhân chuyện đối đáp ở quán, kể luôn chuyện đầu thập niên 20 thế kỷ trước.
     Ở Cầu Cậy, có một cô hàng nước độ tuổi mười bảy, mười tám, con nhà khá giả, xinh đẹp vô cùng. Có lẽ vì xinh đẹp, khá giả mà từ kiêu hãnh quá hóa kiêu căng chăng? Cô thường chê bai trai làng ít học, quê mùa. Có chút chữ nghĩa, học đòi người xưa, cô viết vế đối, treo ở quán, nói với trai làng có đối được thì đem cau trầu đến hỏi cô, đừng đến tán vớ va vớ vẫn. Vế thách đối của cô là:
     - Con gái Cầu Cậy má đỏ hồng hồng, muốn đi lấy chồng để mà trông cậy.
Cầu Cậy là địa danh, cậy còn là một loại cây có quả như quả hồng nhưng nhỏ hơn, chữ cậy cuối vế ra lại có nghĩa là nhờ. Trai làng không ai đối đươc, "ức" lắm. Có chàng trai quyết cưới cô cho "bõ tức", bèn sang huyện bên, nhờ một ông đồ hay chữ chỉ bảo. Nghe chuyện, thầy đồ hứa là chỉ làm cho cô gái gỡ vế đối xuống thôi, còn anh có cưới được cô hay không là phải do tài năng của chính mình. 
     Đúng hẹn, thầy đồ trong vai một ông lão bán mây, vào quán cô uống nước khi bọn trai làng tụ tập đông đủ. Ông đọc vế đối khen hay về ý tứ, chữ viết đẹp. . .đẹp như cô chủ. Nghe giọng điệu ông không khác đám trai làng, cô bực mình:
     - Khen làm gì, ông có đối được không?
     - Tôi đối được thì sao?
     - Thì mang trầu cau đến nhà cha mẹ tôi hỏi tôi làm vợ. Tôi là con gái nhưng "Nhất ngôn cửu đỉnh tứ mã nan truy".
     - Tôi không tốn tiền trầu cau để hỏi người kiêu ngạo, đối được, chỉ cần cô cất vế đối. Vế đối của tôi cô nghe cho rõ nhá:
     - Ông lão hàng mây da xanh mai mái, thích chơi con gái sướng tràn cung mây.
Bọn trai làng vỗ tay cười như chưa bao giờ được cười, mặt cô chủ quán đỏ rực chứ không phải "má đỏ hồng hồng', bỏ cả quán xá; và sau đấy không lâu cô trở thành vợ anh chàng mượn thầy đồ huyện bên "trị" cô.
     Chuyện câu đối về nghiệp giáo có hơi tếu táo, vui một tý, giải được chút stret nào hay chút ấy. Nếu cứ "mô phạm", "khuôn mẫu" suốt năm tháng e rằng chúng ta tự lão hóa tâm hồn mình lúc nào không hay.

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012

Chuyện nghề giáo

Thời gian trôi thật nhanh, đã hơn 30 năm xa mái trường Đại học Sư phạm Vinh, về công tác ở Phú Yên, biết bao kỷ niệm vui, buồn.Bạn bè cũ gặp lại đều đặt câu hỏi: "Tại sao chúng mày ở đấy lâu đến thế?".
     Ngày mới ra trường, theo quyết định của Bộ, vợ chồng tôi được phân công về tỉnh Phú Khánh. Tôi có dì ở Nha Trang cũng làm nghề dạy học, dượng là sĩ quan Không quân; dì dượng nhường cho vợ chồng tôi một căn phòng: "hai cháu công tác ở đây muốn ăn chung ăn riêng gì cũng được". Ngặt một nỗi Sở Giáo dục không bố trí hai vợ chồng tôi cùng một trường ở Nha Trang được vì cùng bộ môn, mà vợ tôi lại muốn thế. Chờ đợi chán rồi ra Xuân Lộc, tới một ngôi trường mà đọc theo quyết định thành lập cũng thấy buồn cười: "Trường cấp II Xuân Lộc có nhô thêm một số lớp cấp III".
     Trường nằm trên vùng cát trắng, không rào bảo vệ, xưa kia là bãi rác của tiểu đoàn lính Nam Hàn đóng tại núi Chùa. Trong khuôn viên trường có tới 36 ngôi mộ.
     Ngày trước về trường, hôm sau ra chợ mua đồ ăn sáng, vợ tôi tính mua thêm mấy cái xoong nồi chén bát thì nhớ ra để quên tiền ở nhà. Chị Lan Đặng (Đặng là tên chồng) nói: "Thầy cô lấy gì cứ lấy, khi nào trả cũng được". Điều ngạc nhiên nhất là lần đầu tiên xuất hiện ở chợ mới sau một đêm ở Xuân Lộc mà sao chị ấy lại biết vợ chồng tôi là giáo viên. Điều ngạc nhiên tiếp theo là không quen biết sao lại bán chịu? Trong đời tôi kỷ niệm ngày đi chợ ấy không bao giờ quên. Ấn tượng đầu tiên với tôi con người ở đây tốt quá, chân thật quá!
     Sau này tôi mới biết chị có con học ở trường tôi dạy, bọn trẻ về kể cho chị hay. Trước khi chúng tôi về, học trò chỉ học các môn tự nhiên, còn các môn xã hội chưa được học vì không có giáo viên. Tôi được phân công dạy Văn một lớp 10 và dạy tát tần tật các môn Sử, Địa, Chính trị toàn khối cấp III, lại thêm chức vụ Phó Bí thư Đoàn Trường và kiêm luôn phụ trách lao động. Mới ở lính về nên hiệu trưởng giao việc gì cũng nhận.
     Ở trường tôi, mỗi tuần lao động một buổi, công việc chủ yếu là lấy đất thịt ở Gò Ốc hay trên xóm Đũi đổ sân vận động. Thầy cô giáo chủ nhiệm phải theo lớp hướng dẫn lấy đất, kèm cặp học sinh tránh tai nạn. Một hôm, tôi đang nghiệm thu lao động chợt thấy cô Vân, giáo viên tiếng Anh, chủ nhiệm lớp 8A đạp xe chạy như bay vào khu tập thể, vội vã vào phòng rồi đóng kín cửa lại. Lớp cô còn một chuyến nữa mới xong kia mà, không biết có chuyện gì nhỉ? Lát sau có bốn em học sinh lớp 8A chở đất đến đổ, tôi bảo các em vào kêu cô Vân ra ký biên bản nghiệm thu. Cô Vân không ra, bảo học sinh nhắn lại với tôi là cô bị mệt.
     Chuyện rồi cũng qua, năm năm sau, dịp 20 tháng 11, Tọa đàm "Về những kỷ niệm nghề giáo", cô Vân kể: "Hồi ấy, tôi chủ nhiệm lớp 8A, một buổi lao động đi lấy đất đổ sân banh, đến trưa, trên đường về, nắng, khát nước, mệt; có hai em học sinh nói với tôi: "Cô có ăn mía không?', tôi hỏi: "Mía ở đâu?". Một em chỉ tay vào đám mía cách đường độ 100 m, nói: "Mía nhà em đó, cô chờ nhé". Nói rồi hai cậu học sinh vào vườn bẻ mía. Tôi đang chờ các em mang mía ra thì bỗng thấy hai em học sinh vừa chạy vừa la: "Cô ơi chạy đi", đằng sau hai đứa là là một ông già đuổi theo : "Bắt lại, đồ ăn trộm...". Tôi vội vàng nhảy lên xe đạp, chay về trường trốn, không dám ra ký biên bản nghiệm thu lao động, sợ ông già đuổi đến thấy thì gay". Nghe cô Vân kể, không ai nhịn được cười. Thầy Quốc "phê bình":
     - Cô Vân không phải là "hảo hán", lúc nguy nan bỏ bạn bỏ bè.
     Tết năm đầu tiên ở lại trường, buồn vô kể. Không có học sinh trường trở nên hoang vu, vắng lặng. Chiều 30 tết, anh Bắc - Hiệu trưởng nhà trường ra thăm vợ chồng tôi, đem cho chúng tôi một gói bánh sâm panh do chị Hồng, vợ anh làm. Anh động viên chúng tôi, chia sẻ sự thiếu thốn tình cảm. Những lời động viên ấy tôi không bao giờ quên. Trên đời này, cảm thông, chia sẻ, động viên đúng lúc là cách thu phục nhân tâm hiệu quả nhất. Những người làm được điều ấy chắc chắn thành công trong cuộc sống, bởi xung quanh họ sẽ là một khối đoàn kết, thân ái.
     Khi anh Bắc ra về thì có hai em học sinh lớp 11 đến trực trường, đó là Ngô Lộc Thạnh, lớp trưởng và Nguyễn Lê Tuấn, lớp phó lao động. Chờ cho anh Bắc ra khỏi cổng trường, Tuấn vào phòng tôi hỏi:
     - Thưa thầy, thầy có kiêng ăn thịt vịt không?
     - Thịt vịt thì có gì phải kiêng hả em. Nghe tôi nói vậy, Tuấn gọi Thạnh:
     - Đưa vào đây.
Thì ra, ba má Thạnh gửi cho thầy cô con vịt luộc để ăn chiều 30 tết cho vui. Các em đưa đến nhưng sợ thầy cô kiêng cữ. Bữa cơm tất niên  hôm ấy, có các em chúng tôi cũng đỡ chạnh lòng. Đến giao thừa, khi nghe tiếng pháo nổ rộ, không có pháo để đốt, Thạnh đánh trống, Tuấn đánh kẻng (trường tôi có trống nhưng hiệu lệnh giờ dạy bằng kẻng). Hôm sau, Tuấn nói với tôi: "Em đánh kẻng một chút mà giờ tai vẫn ong ong, phục bác Ba Đạt thật". Bác Ba là bảo vệ kiêm trực kẻng. Hiệu lệnh của bác cứ gọi là chính xác như máy.
     Mùng 3 tết, mới khoảng hơn 5 giờ một chút, tôi mới vừa vệ sinh sáng xong thì có phụ huynh tới thăm, đó là ông Phạm Xuân Lai ở Hòa Lợi, ba của em Phạm Xuân Thời. Vợ tôi chế nước trà, mang lên dĩa bánh tét chiên để hai chú cháu ăn. Ông bảo vợ tôi cất bánh, nói đã ăn sáng rồi. Ông nói chuyện thời sự Đông Âu, Trung Quốc rồi chuyện địa phương. Khoảng 10 giờ, anh Bắc ghé tôi chơi, ông mừng lắm: "Thầy Bắc ngồi uống trà nói chuyện chơi, tôi chưa vào thầy được, phải ưu tiên thăm thầy cô giáo xa nhà trước". Anh Bắc uống một ly trà, cười cười: " Anh ở chơi với thầy cô, tôi đảo qua trường một tý rồi đi gặp ông Hở, đặt mấy dây đòn tay, mai mốt xây thêm phòng học". Anh Bắc đi, ông hỏi tôi dạy môn gì, tết có làm thơ xuân không. . . rồi ông đọc, ngâm và giảng giải cho tôi ý tứ bài thơ của ông. Khi ông ra về đã hơn 3 giờ chiều. Tôi đói toát mồ hôi nhớt. Hậu, cô học sinh đến chơi với vợ tôi nói: " Thầy cũng thật là, cứ kệ ông ta, đói, mời ông không ăn thì mình cứ ăn chứ". Hôm sau anh Bắc thấy tôi là cười liền: " Hôm qua Thắng dính chưởng phải không, có được năm tiếng không?". Tôi nói: " Hôm nay ông vào nhà anh đấy.". Anh lại cười: "Biết vậy mình mới không ở nhà, tính ra đây rủ Thắng đi chơi tết. Biệt danh của ông là "Lai Tràng Khang", nhớ kỹ nhé". 
     Thời gian trôi đi, lớp học trò dễ thương như những ngày đầu chúng tôi vào nghề hiếm dần. Chuyện quậy của học trò trường nào cũng có. Trường tôi học trò quậy nhưng chưa tới mức "điển hình". Anh Mười, bạn tôi, dạy ở trường HVT kể: " Có hôm tôi dạy hai tiết liền. Đến nửa tiết sau thấy có đứa học trò gục lên bàn ngủ, tôi xuống thì thấy dưới gầm bàn có mấy miếng lòng heo luộc trong một bịch ni lông, một gói muối tiêu, một bịch rượu có ống hút. Thì ra, khi tôi quay mặt xuống lớp giảng bài thì chúng nó ngồi im, khi quay mặt vào bảng vẽ hình, ghi lời giải thì chúng nó nhậu, thật hết biết! . . ."
     Tôi hỏi: "Sao mấy đứa ngồi bàn bên không báo?". Anh trả lời: "Ông cứ như người trên trời rơi xuống. Bạn nó làm sai, hỏi cả trăm đứa như một đều trả lời: "Em không biết" mặc dù chúng nó biết mười mươi. Học trò bây giờ là thế đấy!"
     Còn ở trường dân lập DT, anh Nguyễn Cấp kể: "Hôm tôi vào lớp dạy khi quay mặt vào bảng thì nghe tiếng thùng thùng thùng thùng. Quái lạ, sao trường cho tập văn nghệ vào giờ này. Điệp khúc ấy cứ lặp đi lặp lại. Hình như tiếng ồn ở trong lớp. Bất ngờ tôi quay xuống thì thấy học trò hai bàn cuối đang nắm tay đánh vào mặt bàn. Tôi ôn tồn: "Em nào không thích học tiết này thầy cho ra chơi, đừng làm ảnh hưởng tới bạn khác." Lập tức cả hai bàn cuối kéo nhau ra. Lớp yên ổnđược chừng hai chục phút thì chúng lại kéo nhau vào: "Bên ngoài quán đóng cửa hết rồi thầy ạ".
     "Đành chịu thôi, ai bảo thỉnh giảng làm gì, ham cải thiện đời sống làm gì" - Anh nói tiếp: " Mấy tháng đầu, khi trường mới khánh thành, quán xá mọc lên xung quanh trường quá nhiều, học sinh trốn học ngồi quán không biết bao nhiêu mà kể. Dần dần, quán xá dẹp bớt, rồi đóng cửa hẳn. Tôi nghĩ phục ông hiệu trưởng không biết làm cách gì mà giỏi thế. Sau này, hỏi người bà con cũng làm  quán bán ở đó mới biết là ông hiệu trưởng có nói gì đâu, chính quyền có nói gì đâu, học sinh ăn uống ở quán mười đứa ăn ba đứa trả tiền, rồi nợ, rồi chúng nó đánh nhau. . . Tính ra, người bà con tôi bỏ ra hơn 20 chục triệu, bán được một tháng rồi phải dẹp, mất trắng cả vốn chứ nói chi lãi. . .
     Khi đang viết đến đây tôi nghe tiếng cô bưu tá gọi: "Thầy ơi ra ký nhận bưu phẩm". Bưu phẩm của tôi là ba cuốn sách của ba em học sinh khác nhau nhưng gửi chung. Cuốn "Không thể chuộc lỗi" là của Lâm - cậu học sinh bị tôi xử lý kỷ luật hai lần, giờ đã là Giám đốc chi nhánh của một công ty nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn "Ký ức không quên là của Tuyết, cô học sinh giỏi Văn năm nào, nghe đâu hiện nay là trưởng phòng nào đó của nhà xuất bản Ngoại văn. Còn trong cuốn "Cánh bướm và hoa hướng dương" có tờ giấy, chữ của Tuyết ghi: " Bạn Minh nhờ em gửi tặng thầy cuốn sách, bạn ấy nói dù đang sống ở Mĩ nhưng  như tên cuốn sách, luôn hướng về Tổ Quốc như hoa hướng dương hướng về mặt trời".
     Còn nhiều lắm chuyện vui buồn nghề giáo, định viết tiếp nhưng lại có trò cũ đến thăm, hẹn với blog dịp sau vậy.

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2012

Hương cốm



Trời xanh như hạt cốm
Em gói vào lá sen
Nắng vàng như mật ngọt
Trái hồng chín dần lên.

Gió heo may se tóc 
 Hương đồng đậu vai em
Tim tím trời trong mắt
Bảng lãng chiều không tên.

Ai đi xa để nhớ
Nửa vầng trăng chao nghiêng
Anh về đếm lá rụng
Hương cốm nhòa trong đêm!