Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

HOA NẮNG


          Nắng xuyên qua tán lá
          Vẽ hoa xuống sân trường,
          Tà áo ai vừa khuất
          Còn thoang thoảng mùi hương.

                   Chỉ còn mỗi mình anh
                   Đợi mùa thu trở lại
                   Phượng hồng thay áo mới
                   Mà nao lòng rưng rưng?...
                            
                            Sân trường rộng mênh mông
                            Ngập tràn đầy hoa nắng
                            Rồi từ nay trống vắng
                            Hương thơm tà áo em.

                                     Mùa hạ tiễn em đi
                                     Mùa sân trường trống vắng,
                                     Mỗi lần nhìn hoa nắng
                                     Rưng rưng hồn rưng rưng!...

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

TÂN XUẤT NGỤC HỌC ĐĂNG SƠN - BÀI THƠ HAY CỦA BÁC


TÂN XUẤT NGỤC HỌC ĐĂNG SƠN

                        Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
                        Giang tâm như kính, tịnh vô trần.
                        Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh,
                        Giao vọng Nam thiên ức cố nhân.
Bản dịch của Nam Trân:
                        Núi ấp ôm mây, mây ấp núi
                        Lòng sông gương sáng, bụi không mờ.
                        Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh
                        Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.
Bản dịch của T. Lan (Bác Hồ):
Mây ôm núi núi ôm mây,
Lòng sông sạch chẳng bay bụi hồng;
Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong,
Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai.

            Thơ hay bởi xúc cảm mãnh liệt và biệt tài sử dụng ngôn từ của tác giả. Thơ hay, người đọc không thể đọc qua một lần mà cảm nhận hết ý nghĩa nội dung, nghệ thuật. Ban đầu, yêu thích một bài thơ nào đó là do trực giác. Thuộc bài thơ rồi, đọc trong đầu hay lẩm nhẩm, đôi khi phát hiện thêm một chi tiết hay ý nghĩa sâu xa của từ ngữ làm cho ta sảng khoái, sung sướng. Một bài thơ ngắn hay bao giờ “độ nén” ý nghĩa nội dung, nghệ thuật cũng lớn, bài viết này lấy Tân xuất ngục học đăng sơn của Bác để khảo nghiệm.
            Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Câu đầu (khai) tả cảnh thiên nhiên hùng vĩ, khoáng đạt. Vị trí của tác giả và cảnh vật có khoảng cách khá xa, đủ để thu vào tầm mắt núi non trùng điệp, mây như những tấm khăn quàng quấn ngang qua. Câu thơ độc đáo ở chỗ bảy chữ mà chỉ có bốn từ đơn: vân, ủng, trùng, sơn được dùng đi dùng lại. “Trùng” là lặp lại, liên tiếp. Trùng sơn là những ngọn núi nối tiếp nhau. Thông thường, nhịp thơ xác định điểm ngưng ngắn khi đọc thơ để tách ý trong một câu thơ, nhưng cái hay ở đây, ngắt đúng nhịp, cả câu vẫn kết nối chặt chẽ. Chữ “sơn” sau “trùng sơn” là một nét nhấn, tạo độ sâu của bức tranh phác thảo Tây Phong Lĩnh bằng bốn chữ. Nam Trân dich câu thơ này:
            Núi ấp ôm mây mây ấp núi.
T. Lan dịch:
            Mây ôm núi, núi ôm mây.
Cả hai câu thơ dịch chưa chuyển tải hết ý nghĩa nguyên bản. Nam Trân giữ nguyên số chữ nhưng làm tối đi khung cảnh. Câu thơ của Bác mở đầu là “mây” kết thúc cũng là “mây” gợi cho người đọc cảm giác khoáng đãng; câu thơ dịch đảo lại, bắt đầu là “núi” kết thúc cũng là “núi”, khác gì đứng trong thung lũng nhìn lên? Điều này không hợp với tâm trạng của tác giả “mới ra tù tập leo núi”.
            Câu thơ dịch của T. Lan giữ được ý nhưng thiếu đi một chữ quan trọng - chữ “trùng” (Nam Trân cũng vậy). Nam Trân dịch theo thể thất ngôn, T. Lan dịch theo thể lục bát. Tổng số chữ trong cả bài đều là 28, nhưng mới khảo sát, đối chiếu câu thơ đầu thôi, chúng ta thấy chuyển tải từ ngữ từ nguyên bản sang dịch khó đến nhường nào.
            Câu thơ thứ hai (thừa) đẹp đến nao lòng. Vị trí tác giả ngắm dòng sông lưng chừng núi, từ trên nhìn xuống, khoảng cách không xa lắm. Từ dùng “tịnh vô trần” khẳng định “tuyệt nhiên không có bụi trần”, làm cho không gian yên tĩnh càng yên tĩnh hơn, dòng sông trong trẻo càng trong trẻo hơn, phản quang dòng sông dưới ánh nắng càng lấp lánh hơn. Từ dùng như ngọc quí không tì vết khiến học giả uyên thâm Nam Trân và ngay cả chính tác giả nữa, không thể chuyển tải hết cái thần của câu thơ:
- Lòng sông gương sáng, bụi không mờ
                                          (Nam Trân)
            - Lòng sông sạch chẳng mảy may bụi hồng.
                                                               (T. Lan)
            Chỉ với hai câu thơ, câu đầu là nét phác thảo, câu thứ hai đặc tả, Người đã vẽ nên bức tranh sơn thủy tuyệt bích. Bức tranh có bố cục cân đối, chặt chẽ bởi qui luật xa - gần, trên - dưới. Người vẽ tranh và người xem tranh không cùng thế hệ, không cùng thời đại đi chăng nữa cũng gặp nhau ở xúc cảm bồi hồi.
            Câu thơ thứ ba (chuyển), tác giả sử dụng động từ “độc bộ” (bước từng bước một) ngay sau động từ “bồi hồi” trong hoàn cảnh “mới ra tù” đang “tập leo núi” gợi cho người đọc cảm nhận xúc cảm trong lòng tác giả mỗi lúc một trào dâng. “Bồi hồi” là nhãn tự của bài thơ, là cái trục, cái bản lề mở về hai phía. Phía trước là cảnh đẹp Tây Phong Lĩnh và hoàn cảnh thực tại như đã nói, và phía sau - nằm trọn ven ở câu cuối (hợp):
            Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.
Nam trân dịch:
            Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.
T. Lan dịch:
            Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai.
            “Dao vọng” là đứng trên cao mà trông về, “ức” là nhớ, “cố nhân” nghĩa tường minh là bạn cũ. “Cố nhân” là từ được sử dụng khá thông dụng trong đời sống xã hội với ý nghĩa là người bạn thân thiết, rất hiểu nhau. Câu thơ dịch của Nam Trân tường minh nhưng vẫn thiếu cái hồn của “dao vọng”. Câu thơ dịch của tác giả cho chúng ta biết “Nam thiên” cũng chính là tổ quốc. Từ dùng ước lệ “trời Nam”, “cành Nam” chỉ tổ quốc với các bậc túc nho ngày xưa là phổ thông, nên Bác dịch như vậy không có gì lạ. Về ước lệ đã nêu, chúng ta hiểu thêm vì sao cụ Phan Bội Châu lại lấy tên hiệu Sào Nam:
            Hồ mã tê sóc phong
            Việt điểu sào nam chi
            (Ngựa Hồ hí gió bắc
Chim Việt đậu cành Nam)
Đứng trên đỉnh núi cao, không gian càng rộng, chỉ một mình, người ta càng cảm thấy lẻ loi, cô đơn. Ở bài thơ này, tâm trạng đầy ắp nỗi nhớ nhung tổ quốc, cố nhân của Bác không gợi cho người đọc nỗi cô đơn. Vì sao như vậy? Sau “dao vọng” là “Nam thiên” - trời Nam - tổ quốc, gợi không gian rộng mở trong tâm thức, là nỗi khát khao trở về của người chiến sĩ cách mạng, khác xa vọng chân mây, thấy chân trời xa mù mịt. Cùng tâm trạng nhớ nhung, pha thêm sắc tím lên bầu trời, Xuân Diệu có câu thơ tuyệt hay về nỗi cô đơn:
            Chiều vọng chân mây nhớ tím trời.
Nhớ nước song hành nỗi nhớ bạn - những người đồng chí vỡ òa ra khi Người đứng trên đỉnh Tây Phong Lĩnh. Khi ở trong tù, Bác bị hành hạ đến nỗi:
Răng rụng mất một chiếc
Tóc bạc thêm mấy phần
Gầy đen như quỉ đói
Ghẻ lở mọc đầy thân
           (Bốn tháng rồi)
Ra tù, Bác tập leo núi rèn luyện sức khỏe mong sớm được trở về tổ quốc, với bạn bè đồng chí của mình. Từ “trùng sơn” ở câu thơ đầu cho chúng ta thấy Tây Phong Lĩnh hùng vĩ, hiểm trở, thế nhưng kiên trì “độc bộ” Bác đã chinh phục được đỉnh núi. Cái cảm giác sung sướng khi vượt qua được khó khăn, cản trở cũng có phần trong xúc cảm bồi hồi. Như vậy, Bác bồi hồi bởi cảnh đẹp Tây Phong lĩnh, bồi hồi vì chinh phục được những đỉnh núi cao trập trùng, bồi hồi vì nhớ tổ quốc, bạn bè - đồng chí.
            Bài thơ Tân xuất ngục học đăng sơn Bác viết khoảng giữa tháng 9 năm 1943 khi mới được ra tù nhưng vẫn còn bị giam lỏng ở Liễu Châu. Trong Hồi ký, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: khi nhận được một tờ báo từ Trung Quốc gửi về, rìa tờ báo có ghi dòng chữ: “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác tốt. Ở bên này bình yên” bằng chữ Hán, biết ngay là chữ của Bác. Dưới dòng chữ là bài thơ tứ tuyệt, đọc bài thơ biết Bác còn sống, nơi ở và tâm trạng của Người, các đồng chí ở chiến khu Cao - Bắc - Lạng cảm động đến rơi nước mắt. Thì ra đây là bức thư Bác gửi cho đồng chí của mình. Ngẫm lại, 28 chữ thôi mà đầy đủ thông tin:
            - Bác đang còn sống, ở chân núi Tây Phong Lĩnh (Liễu Châu).
            - Tấm lòng của Bác trong sáng, kiên định lý tưởng cách mạng qua ẩn ý: “Giang tâm như kính tịnh vô trần”.
            - Canh cánh nỗi nhớ về Tổ quốc, bạn bè, đồng chí.
            Như vậy, chúng ta rõ mục đích tạo lập văn bản này của Bác. Đây là một bức thư (phong cách ngôn ngữ nói) lại được thể hiện bằng thơ (phong cách ngôn ngữ nghệ thuật). Điều này thể hiện tài năng trác việt của Người.
            Ngoài giá trị nội dung, nghệ thuật, bài thơ còn là một tư liệu lịch sử trong quãng đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
            Hiểu và cảm Tân xuất ngục học đăng sơn qua bài thơ dịch của Nam Trân, T. Lan, thay lời kết, đề xuất thêm một cách dịch mới, chắc chắn vẫn không thể nào thể hiện cái thần của nguyên tác, nhưng thiết nghĩ đây là cách thể hiện tấm lòng kính trọng và yêu thơ Người:
Mây ôm núi, núi nâng mây,
Sông trong như kính chẳng bay bụi trần,
Bồi hồi trèo đỉnh Tây Phong 
Trời Nam cao vọng, bạn trong tim mình.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

HỒN TƯỢNG


 Tử Văn đi rạc cả chân, mỏi mệt, tựa lưng vào chân tượng đài, lấy tờ báo “Tuổi Trẻ” xem lại mục quảng cáo tuyển người. Công ty trách nhiệm hữu hạn có, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có, văn phòng đại diện có…đã nộp 15 bộ hồ sơ, nơi nào cũng đánh giá “năng lực tốt” nhưng nơi nào cũng bảo để lại số điện thoại, có gì liên hệ sau. Bà chủ phòng trọ nói ở cái thời buổi này có tài giỏi đến mấy, không có tiền “bôi trơn”  kèm theo đố mà xin được việc. Tử Văn hiểu điều đó nhưng lại nghĩ chẳng lẽ ở cái thành phố này không còn một nơi nào tử tế, trong sạch? Còn 3 cái hồ sơ, Tử Văn quyết tìm nộp cho xong, hy vọng sẽ có một cánh cửa mở ra với mình.
            Lục túi xách, lấy mẩu bánh mì, tử Văn cắn từng miếng nhỏ nhai chầm chậm. Không phải nhai chậm để thưởng thức mà vì mẩu bánh mì khô cứng quá. Mỏi chân, mỏi hàm rồi mỏi cả mắt, Từ Văn thiếp đi lúc nào không hay.

            Tử Văn nghe tiếng gió thổi rì rào nhưng những hàng cây lại đứng im phăng phắc. Một ông lão cao lớn, mắt cụp xuống, nét mặt buồn bã chống gậy bước tới. Nhìn dáng người thì cây gậy ông cụ chống không hợp cho lắm. Chống gậy cho ra vẻ thì e rằng đó không phải là ý muốn ông cụ. Cây gậy khắc dòng chữ gì đó Tử Văn nhìn chưa ra. Cúi đầu chào cho phải phép, ông cụ  gật đầu, cười gượng mà mắt rơm rớm. Tử Văn thấy lạ, hỏi:
            - Cụ có chuyện gì buồn? Cháu giúp gì được không?
Ông cụ hỏi lại:
            - Chỉ anh là đang có thiện cảm với ta, còn hầu hết người ta dửng dưng. Bộ dạng ta khó coi lắm phải không?
Tử Văn không hiểu sao ông cụ lại nói thế, nhìn nét mặt, vóc dáng, Tử Văn đáp:
            - Thú thật với cụ, cháu thấy cụ to lớn khác thường, thần sắc không được tốt, ánh mắt cứ nhìn xuống như sợ sệt điều gì đó, lưng còng hình như là bị tật chứ không phải do tuổi tác.
Ông cụ thở dài:
            - Anh tinh tường đấy. Ta gù lưng, chân đi không vững vì chúng rút bao nhiêu là gân cốt. Do đó, hình hài này có chút thiện cảm với mọi người đã là con số không tròn trĩnh nói chi được chiêm ngưỡng yêu quý rồi “cảm hóa, giáo dục”!
Tử Văn chưa hiểu ý, ông cụ biết điều đó, ngồi xuống bên cạnh, lấy một chiếc kẹo từ trong túi ra.
            - Anh hãy ăn chiếc kẹo này rồi nói mùi vị cho ta nghe.
Nhìn ánh mắt của cụ như mong ước một điều gì đó, anh không thể chối từ. Kỳ lạ làm sao, ngậm chiếc kẹo trong miệng, Tử Văn thấy rất rõ sự chuyển biến của vị giác.
            - Thưa cụ, ban đầu con thấy đắng, hết vị đắng đến cay, hết cay rồi đến ngọt ạ.
Nét măt ông cụ rạng rỡ hẳn lên:
            - Đây là chiếc kẹo cuối cùng của ta. Chiếc kẹo thứ 18.
Đôi mắt cụ sáng trong, ấm áp lạ lùng, ánh mắt của một con người mãn nguyện.
            - Vị đắng cho ta biết anh là người ngay thẳng, trung thực, vị cay cho biết cuộc đời anh lắm chông gai, nhưng mừng thay vị ngọt lại là một kết thúc có hậu.
Cầm bàn tay Tử Văn, ông cụ nói:
            - Nhân duyên cho chúng ta gặp nhau, anh đừng hỏi nhiều, nhớ kỹ lời ta nói là được!

            Tử Văn cảm nhận được luồng hơi ấm từ bàn tay cụ nắm lan dần khắp cơ thể. Anh từ từ khép mắt lại, mơ thấy ông cụ chính là vị giáo sư khả kính đang đứng trên giảng đường:
            - Người Việt ta quý cái xinh xắn, cân đối, hài hòa, đơn lẻ trong kiến trúc hơn qui mô, hoành tráng. Đình chùa miếu mạo, tượng Phật, La Hán bao giờ cũng vừa phải, tạo nên sự gần gũi. Đây là đặc trưng tâm linh của văn hóa làng xã cấy trồng lúa nước. Hơn 4.000 năm lịch sử,   biết bao nhiêu người con ưu tú ngã xuống trong những cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, biết bao nhiêu người tài đức giúp dân lạc nghiệp mà có mấy người được lập đền thờ, tạc tượng hay khắc công bia đá? Dân ta quan niệm tượng đài vĩnh cửu nhất là được truyền tụng trong nhân gian:
                        Trăm năm bia đá thì mòn
                  Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.
Ngưng lại một chút như hoài niệm quá khứ, giáo sư giảng mà như tâm sự:
            - Tại sao chiêm ngưỡng La Hán chùa Tây Phương, tượng Phật trước thời thuộc Pháp chúng ta có cảm giác rưng rưng trong lòng? Bởi vì cái khổ đau, tù túng, đói nghèo của một giai đoạn lịch sử dân tộc được những bàn tay tài hoa, tâm huyết tạc nên. Cha ông ta gửi gắm tâm hồn mình qua bố cục, nét khắc hay nói đúng hơn những suy tư, trăn trở lái bàn tay cầm đục, cầm chàng…Còn bây giờ tượng đài, phù điêu nhiều như nấm mọc sau mưa, nhưng giá trị nghệ thuật, tuổi thọ công trình như thế nào? – Kém lắm phải không? Đôi lúc chỗ này chố nọ còn có những công trình phản cảm, cuối cùng phải dỡ bỏ vì phản bác của dư luận. – Vì sao như thế, trình bày chính kiến xem nào? Giáo sư chỉ Tử Văn. Anh đứng dậy theo phản xạ, im lặng giây lát, trả lời chầm chậm, ngập ngừng, cách nói biểu hiện chưa thật sự tự tin:
            - Thưa giáo sư! Em nghĩ tượng đài, phù điêu thời đại chúng ta thiếu hồn vì người thực hiện chưa ngang tầm với ý tưởng sáng tạo của tác giả ạ.
            - Còn gì nữa không? Có ai bổ sung thêm?
Giáo sư nhìn khắp giảng đường. Tất cả im lặng, sự im lặng thụ động thường thấy khi những câu hỏi nêu ra đòi hỏi sự động não cao.
            - Cái gốc không ở đó. Cha ông ta sáng tạo những công trình nghệ thuật xuất phát từ nhu cầu tâm hồn, còn bây giờ người ta sáng tạo xuất phát từ nhu cầu vật chất. Cái nhu cầu vật chất nó chi phối tất cả, từ ý tưởng thiết kế, duyệt thiết kế cho đến thực hiện tác phẩm. Người tài không thiếu đâu các anh chị ạ, cái thiếu nhất là bản lĩnh của người có tài. Khó hiểu quá hả? Tôi lấy ví dụ thế này, một mẫu thiết kế tượng đài được chọn, tác giả phải có tiền “bôi trơn” cho hội đồng thẩm định hay ký mà không nhận tiền bản quyền. Vì sao người thiết kế làm như vậy? Anh ta bỏ công sức ra kiếm cái danh. Tượng đài gắn liền với tên tuổi anh ta, tượng đài càng hoành tráng thì đó là sự chứng thực cái danh càng lớn. Có “danh” rồi lo gì không kiếm tiền được ở những công trình kế tiếp, anh ta nghĩ như vậy. “Hội đồng thẩm định” rồi “giám sát thi công”, bên B – thi công công trình, và nhất là chủ đầu tư có tiền cả, vậy là vui vẻ đôi đường…Thế nhưng, từ phác thảo, thiết kế mẫu ban đầu đến thi công hoàn thiện lại là một khoảng cách rất lớn. Lẽ ra để đứa con tinh thần của mình căng tràn sức sống, bố đẻ nó phải theo sát quá trình thi công, chỉ huy tu chỉnh từng ly từng tý, nhưng anh ta không làm vậy. Vì sao ư? “Cốc mò cò xơi”, làm không công thì tận tâm tận lực làm gì, đằng nào thì tác phẩm cũng được duyệt rồi. Đấy là lý giải vì sao tượng đài vô hồn. Đáng thương cho tác giả, cần cái danh mà thiếu tâm huyết, đam mê, kiên trì để theo đuổi đến cùng. Gạt ra ngoài vấn đề vật chất, tâm huyết, đam mê, kiên trì theo đuổi cái đẹp đến cùng đó chính là bản lĩnh.
            Giáo sư bước lên bục giảng, viết lên bảng dòng chữ: “Sau này anh ta có kiếm tiền được ở những công trình khác như anh ta nghĩ không?” rồi ông chỉ 3 sinh viên lên bảng viết ngắn gọn câu trả lời của mình.
            Cậu sinh viên có cái trán cao ghi: “Không! Vì tác phẩm của anh ta không có ấn tượng với người xem nên chả ai dại gì hợp đồng với anh ta.”
            Cậu mập lùn viết: “Có! Anh ta phải suy nghĩ làm sao để có tiền nuôi vợ nuôi con. Suy nghĩ của anh ta ra sao chỉ anh ta mới biết.”
            Cô sinh viên lưng eo, tóc xõa đen mượt, chữ đều, đẹp: “Không! Anh ta không thể kiếm tiền như suy nghĩ ban đầu của anh ta được. Thời đại kim tiền, “hội đồng thẩm định” lại chọn những tác phẩm của kẻ cần danh, mượn cái vỏ bọc nghệ thuật để đầy túi tham của họ!”
Giảng đường đầy ắp tiếng cười khi đọc câu trả lời của anh mập, vị giáo sư cũng cười, chờ cho không gian yên lặng trở lại, ông nói:
            - Cái tài được mọi thời đại công nhận bao giờ cũng gắn liền với những con người có bản lĩnh. Tôi rất tâm đắc với Huấn Cao của Nguyễn Tuân, Vũ Như Tô của nguyễn Huy Tưởng ở bản lĩnh người nghệ sĩ…
Giáo sư bước xuống bục giảng, giơ bàn tay trái ngang vai như khi người ta tuyên thệ:
            - Tóm lại, giáo sư thở dài, muốn có một tượng đài, công trình kiến trúc có hồn thì tác giả, hội đồng xét duyệt, thẩm định phải là những người không bị lợi danh chi phối…

            Bỗng dưng một trận mưa tiền rào rào xuống giảng đường, rồi gió nổi lên, những đồng tiền cuồn cuộn xoáy cuốn phăng sinh viên, cuốn phăng cả giảng đường. Tử Văn nhìn lại chỉ còn cô sinh viên eo thon và vị giáo sư khả kính. Một luồng gió nữa lại nổi lên, mù mịt. Gió ngưng, mở mắt ra, Tử Văn thấy mình, vị giáo sư, cô sinh viên eo thon đứng trước một cái bình gốm lam vẽ hoa sen cao ngang đầu người. Xúm đen xúm đỏ xung quanh là những bác thợ gốm, thương lái, nho sinh, thợ cấy, tiều phu…và cả một đám lính kỵ đứng sau viên quan mặt phèn phẹt. Mà vị giáo sư sao lại ăn mặc như ông đồ? Cô sinh viên eo thon tóc xõa mượt mà bây giờ lại yếm thắm đội khăn mỏ quạ? Nhìn lại mình, Tử Văn ngỡ ngàng đang vận chiếc áo dài thâm hàn nho…Đang phân vân thì ông đồ vỗ vai, khen:
            - Đúng là kiệt tác phải không cậu?
Giữa những tiếng xuýt xoa là câu nói của bác thợ cả:
            - Hàng cống Tàu đấy, không khiếm khuyết gì phải không các bác?
Ông đồ mắt sụp xuống, cô nàng đội khăn mỏ quạ đỏ mặt, Tử Văn như mắc xương trong cổ họng. Cố nuốt nướt bọt, chàng nói:
            - Rất nhiều khiếm khuyết là đằng khác!
Mọi người ngạc nhiên, bác thợ cả nói:
            - Xin tiên sinh chỉ giáo.
Tử Văn rành rọt, âm hưởng lời nói cuồn cuộn từ trong lồng ngực:
            - Cống một sản phẩm chúng chỉ được một. Dã tâm của chúng là muốn được tất cả. Cho nên rồi đây, sau cống vật là cống nhân tài, các bác không muốn xa vợ con, xa quê hương chứ?!...
“Bo…oang…oo…”, mọi người giật bắn mình. Tử Văn cầm cái dùi đồng đập vào, cái bình vỡ một miếng bằng bàn tay.
            - Á…á…á! Ngươi phải chết, tên quan mặt phèn phẹt hét lên, lính đâu, phanh thây thằng nho sinh khốn kiếp cho ta!
Năm sáu tên lính kéo Tử Văn ra khoảng đất trống trước lò gốm, nơi người ta dùng để phơi cốt gốm hay ra hàng buôn bán. Tên quan lạch bạch bước lại, cầm cái thòng lọng tròng vào cổ Tử Văn, đầu dây bên kia tên lính đang buộc vào trục chiếc xe ngựa. Chúng đang rải dây đến bốn con ngựa khác thì giật mình bởi tiếng thét:
            - Khoan đã! Ta sẽ chết thay cho chàng!
Thì ra đó là tiếng thét của nàng đội khăn mỏ quạ, mày thanh môi đỏ, cốt cách thanh cao, xinh đẹp lạ thường. Tên quan mặt phèn phẹt, da mặt láng bóng, đỏ như gà chọi quay lại. Ngẩn người trước vẻ đẹp hoa nhường nguyệt thẹn, y nuốt nước bọt:
            - Hừm…Có thể đem cống cô này thay cái bình được đấy! Nhưng hắn vẫn phải chết, trừ khi chiếc bình lành lặn lại như trước!
            - Được rồi, nhà ngươi nói phải giữ lời!
Nàng bước đến trước mặt Tử Văn, đôi mắt trong, dịu dàng, ấm áp nhìn chàng như tha thiết, như tôn kính, như khích lệ.
            - Có duyên gặp chàng ở đây dù chốc lát nhưng tình nghĩa ngàn năm đeo đẳng. Mong rằng mai sau chàng vẫn mãi giữ được bản lĩnh như ngày hôm nay.
Dứt lời, nàng tỏa ra hào quang. Vầng hào quang càng lớn bóng nàng lại mờ dần. Vầng hào quang bay lên cao rồi trùm xuống chiếc bình khiến mọi người hoa cả mắt. Khi vầng hào quang tan hẳn vào ánh nắng, chiếc bình vẹn nguyên không tỳ vết, như được tạc từ nguyên khối mã não khổng lồ.
            - Trời, bông hoa sen như đang từ từ nở ra kìa.
            - Ôi! Hình ảnh trận chiến Bạch Đằng dữ dội quá!
Tên quan khều người lính bên cạnh, thì thào:
            - Sao tao không thấy hoa sen đâu, chỉ thấy ngài Chu Văn An dâng thất trảm sớ?
Tử Văn nhìn đi nhìn lại chiếc bình, khi thấy nàng ngồi trên cầu ao chải tóc, hoa sen đỏ rực, khi thấy nàng thổi sáo, dệt vải…nhưng dù ở tư thế nào đi chăng nữa, đôi mắt đẹp vẫn dõi theo chàng đắm đuối, đôi môi hé cười. Rồi nàng cởi cái khăn mỏ quạ, áng tóc đen mượt xõa xuống, nàng đưa tay vẫy, một con hạc vàng sà xuống chở nàng bay lên khuất dần sau làn mây trắng…

            Tử Văn đưa tay lên vẫy từ biệt nàng nhưng không thể được. Cố mãi, cố mãi, vung tay một cái thật mạnh, anh chợt tỉnh lại, rút bàn tay mình khỏi bàn tay ông cụ.
            - Nội lực căng tràn, trái tim rực lửa, quý lắm, giống như ta ngày xưa…Có những kẻ thuyết phục người ta rằng hắn đang làm điều hay, điều tốt nhưng thực ra đang che đậy lòng tham vô đáy. Than ôi…cứ như chúng muốn làm điều gì tốt cho ta ư? Không đâu, chỉ thêm một vết nhọ lên mặt khiến đồng bào, thiếu nhi xa lánh ta thêm mà thôi!...
            Ông cụ đứng dậy không được, Tử Văn tính dìu, cụ xua tay:
            - Đừng dây vào ta, cây gậy chúng quẳng cho ta quả có sức mạnh ngàn tấn đấy anh à.
Cụ run run chống gậy đứng lên. Lúc này Tử Văn mới thấy rõ dòng chữ khắc trên cây gậy: “Chất lượng công trình tốt”, cạnh dòng chữ là con dấu đỏ: “Kiểm định chất lương”.

            Tử Văn cũng đứng lên. Anh sực tỉnh, hóa ra nãy giờ thiếp đi dưới chân tượng đài. Cái túi xách lăn lóc bên cạnh tòi ra 3 bộ hồ sơ chưa nộp. Nhặt cái túi, nhìn lên, tấm biển đá sứt một góc khắc dòng chữ: “Tượng đài lãnh tụ với nhân dân…”

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

THÓI ĐỜI

         
          Ghét cay ghét đắng cái thói đời
          Xu thời nịnh thế kiếm chác thôi
          Vì tí lợi quyền ngưu tầm mã
          Đá bát xưa nay thấy nhiều rồi.

          Ghét cay ghét đắng cái thói đời
          Bất tài vô tướng nó lên ngôi
          Mượn lệnh, to mồm lời đe nẹt
          Công bằng, dân chủ nước trôi xuôi…

          Ghét cay ghét đắng cái thói đời
          Nhân tài là thứ rác rưởi thôi
          Miễn có cha ông làm quan lớn
          Ngu dốt lo chi cái ghế ngồi!...

          Ghét cay ghét đắng cái thói đời
          Bất bình ta chửi đổng thế thôi
          Giọng thơ cóc nghiến lời chua chát
          Bé họng  vang đâu thấu tới trời!

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

SAO EM NỠ LÀ EM

        
           Cái ngày phải xa anh
          Trời vẫn xanh nhưng lòng em héo úa,
          Anh đừng nghĩ đường em đi trải đầy nhung lụa
          Chân vô hồn mỗi bước một thêm đau.

          Dải hoa trắng người ta cột lên đầu
          Đấy đích thực vành khăn tang tình ái,
          Em ước chi đó là vòng hoa dại
          Thuở ngày xưa anh kết lại tặng em!

          Em biết anh đau buốt con tim
          Cay đắng lắm, yêu thương nhiều lắm,
          Mà hận cuộc đời trái ngang, ảo mộng
          Khi tấm lòng vẫn ngóng về nhau…

          Anh đau đời không thể nén nỗi đau
          Em là dao đâm nát lòng anh đấy,
          Ngàn năm sau trái tim anh vẫn vậy
          Nên hận mình sao em nỡ là em?!...

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐỜI


CHƯƠNG VII

            Thằng Vệ lăn qua lăn lại trên chiếc dát giường đặt trên nền xi măng. Nó không thể ngủ được vì muỗi, rệp. Buồng tạm giam không chật lắm nhưng ẩm mốc, bốn bức tường loang lổ, lở lói do nước mưa ngấm và những dòng chữ, hình vẽ bậy bạ được khắc vào đó. Thằng Vệ cũng muốn khắc chữ gì đó để giết thời gian, và quan trọng hơn, để một “kỷ niệm” ở đây, sau này được thả ra có chuyện mà nói với đám bạn. Hai bao phân đạm, bán được sáu đồng rưỡi, có lẽ hợp tác xã mua cùng lắm là mười đồng. Chẳng lẽ bố mẹ nó không vay mượn đâu ra mười đồng đền cho người ta để nó được về nhà. Bố nó không dám để nó bị giam lâu đâu, nó biết. Bị giam lâu có nghĩa là nặng tội. Nó nặng tội thì bố càng khó nhìn mặt người làng. Nếm mùi một đêm ở đây là đủ rồi, vài ba đêm chắc chết.

            Phẩy tay đập con muỗi trên má, mông nó lại bị rệp cắn. Chống tay ngồi dậy, bắp chân lại bị cắn miếng nữa. Rệp đâu mà lắm thế! Tính dậy dựng dát giường lên dỗ, giết hết bọn rệp quái ác nhưng nền buồng giam tối sao mà thấy được? Nó nghĩ ra cách khác, không nằm trên dát giường nữa, nằm trên nền xi măng tốt hơn. Áp má vào nền, mùi ẩm mốc, khai khai nồng nặc hơn. Cái mùi khai bất giác làm nó buồn tiểu. Bụng dưới của nó mỗi lúc một căng ra. Từ chín giờ tối qua tới giờ nó chưa đi tiểu. Cửa buồng giam khóa, làm sao bây giờ? Không nín được nữa, nó đứng dậy xỉa chim vào tường. Nước tiểu không loang ra nền nhà mà chảy theo khe nứt giữa móng và nền. Nó cảm thấy nhẹ cả người.
            Ánh sáng ngọn đèn điện ngoài hành lang chiếu qua cửa sổ lên bức tường đối diện như màn hình chiếu bóng. Hai chữ “oan quá” được khắc lớn, ở giữa màn hình làm nó liên tưởng chữ “hết phim”. Cách đây một tuần, sau khi xem xong bộ phim “Những người báo thù không thể bị bắt”, nó rủ thằng Tập đến kho hợp tác xã ăn trộm phân đạm. Thằng Tập hỏi ngộ nhỡ bị bắt thì sao, nó nói đếch có thằng nào coi kho thì ai bắt. Thằng Tập lưỡng lự, nó lại nói hai đêm trước nó đã lấy được bảy kg. Thằng Tập vẫn còn do dự, nó bảo có bị bắt nó chịu hết cho, lúc đó thằng Tập mới dám đi theo.
            Chuyện nó ăn cắp phân đạm giống như ai đó xui khiến. Mẹ kêu nó đi chăn trâu luôn tiện cắt gánh cỏ để bà đi nhận phân đạm nhưng nó không chịu. Chăn trâu cắt cỏ phải mất cả buổi, lên kho hợp tác xã nhận hai chục kg phân còn khối thời gian đi chơi.
            Chờ mãi gần tới ba giờ chiều bà kế toán Diệu Ly mới tới ký phiếu xuất kho. Cái dáng đi điệu đà, hơi nhún nhảy với dép cao gót, tóc phi dê của bà ta hợp với dự đám cưới, lên sân khấu hơn là đi trên con  đường đầy phân trâu và in dấu chân trần nông dân gánh vã. Chỉ mươi mười lăm người mà ai cũng nhao nhao đòi nhận trước. Anh Được thủ kho nuôi vợ đẻ nên Diệu Ly xuất kho giùm. Bà ta nói với nó: “Ở đây chỉ có cậu là trai tráng, vô kéo mấy bao phân ra chút coi”. Nhờ đó, nó mới phát hiện ra cái vách gỗ có mấy tấm ván xộc xệch lắp không đúng khe, chỉ cần xoay qua một chút là tháo ra được. Trên đường về, nó nghe bà Sáu sẹo nói với chị Thảo: “Không biết kiếm đâu ra mà mụ Suất khi nào cũng có phân đạm bán lẻ, vài ba kg lúc nào cũng có”, “Thế còn mua cả bao?”, “Thì lên chợ huyện, mấy nhà gần cổng chợ đó”, “Xa quá, mất công quá, chi bằng cứ đặt trước bà Suất năm bảy bữa khỏe hơn”, “Cũng chẳng khỏe gì, mua bằng tiền của mình mà vẫn cứ phải lén lén lút lút như đi ăn cắp…”
            Nghe bà Sáu sẹo và chị Thảo bàn tán vậy, gánh về nhà, nó kiếm cái bì ni lông, hốt một mớ dem giấu ngoài cổng, ăn cơm xong nó đem ra nhà bà Suất hỏi bán. Nó sẽ giành cho bà chị nỏ mồm của nó một sự bất ngờ.
            - Có ai biết cậu đem ra đây không?
            - Không đâu!
Nhấc nhấc bịch phân đạm, bà Suất nói:
            - Ba hào.
            - Răng có ba hào? Bà cân lên thử coi!
            - Có chút xíu chứ nhiều nhặn chi mà cân cho mất công. Không bán cậu đem đi chỗ khác!
Nó đành gật chứ đem đi đâu được. Cất chỗ phân đạm, phủi tay, rót bát nước chè xanh, mở thẩu lấy miếng kẹo lạc đưa cho nó, bà ta nói:
            - Ăn kẹo, uống nước đi, tui không trừ tiền mô mà cậu lo.
Rồi bà Suất dặn từ nay về sau có món gì cứ đem ra bà mua tất. Nó hỏi vậy cả bao phân đạm giá bao nhiêu, bà ta đáp:
            - Cứ chục cân là đồng mốt ba xu, cứ rứa mà tính.

            Mờ mờ sáng, nó nghe tiếng còi rồi tiếng chân chạy rậm rịch, tiếng hô thể dục ở khu tập thể đồn công an. Thế là đã qua một đêm. Không biết bố nó có lên xin cho nó về không, tự nhiên bụng nó như có lửa đốt.
            Thời gian chậm chạp trôi đi, hết đứng lên, ngồi xuống lại vịn cửa sổ nhìn ra xa. Cái đường luồn hẹp bởi bức tường dãy nhà làm việc mới xây chắn ngang, có cố nhìn cũng chỉ thấy một khúc đường ngắn. Những dáng người trên xe đạp, gồng gánh vừa hiện ra đã vội biến mất, không đủ để nhận dạng một ai dù rất đỗi thân thiết. Còn sớm quá, có lẽ bố chưa lên được đâu, từ nhà lên đây cũng mấy tiếng đồng hồ chứ ít gì. Nghĩ vậy, nó lại nằm xuống nền buồng giam. Chong mắt nhìn những dòng chữ, hình vẽ trên tường, chợt nó nhớ phải khắc chữ gì đó. Mò trên nền xi măng nó tìm được viên đá bằng đầu ngón tay gần cửa ra vào. Chọn được một khoảng trống gần cửa ra vào, ngang tầm mắt nó miết viên đá vào tường. Viết chữ chi hè? Nó đứng đực ra giống y như thầy giáo gọi lên bảng hỏi bài cũ. Không thể viết lại những gì người ta đã viết. Trên tường đã xuất hiện một vệt hơi xeo xéo do nó cứ cà đi cà lại viên đá. Phải rồi, cứ ghi tên mình là hay nhất. Cà xong chữ Vệ, nó lại nghĩ như thế chưa mấy ai biết nên khắc tên bố vào luôn. Hừm, sau này làng nó có đứa nào vào đây chắc chắn sẽ thấy tên nó…Đang cà chữ “B” thì cửa buồng giam mở. Chưa kịp vất viên đá thì “bốp”, mắt nó thấy cả trời sao:
            - Đã vào đây còn phá phách, đi ra!
“Ông nội mày”, thằng Vệ rủa thầm nhưng vẫn cung cúc theo sau. Đến trước sân đồn, anh ta nói:
            - Quét cho sạch cái sân đi!
Làm xong việc được giao, vừa ngồi xuống bậc tam cấp, nó lại “được” anh ta giao việc khác:
            - Xách hai cái xô này xuống giếng múc nước đổ vào cái bể kia. Khi nào đầy thì vào báo.
Cái bể nhìn thì nhỏ nhưng xách đổ mãi mực nước không lên được bao nhiêu, cứ y như là lủng đáy vậy. Hay thế thật? Đổ xong xô nước, nhìn kỹ đáy bể, không có vấn đề gì cả. Cái van xả nước cũng không rỉ một giọt. Chán nản quá. Rồi nó cứ uể oải dần. Gàu nước xách lên nặng hơn, đoạn đường từ giếng đến bể cũng xa hơn. Mỏi tay, mỏi chân, cả người như rã rời. Múc gàu nước không còn đầy nữa, xô nước đổ vào bể cũng lưng dần. Đói, đói quá. Bụng réo, mồ hôi trán đổ ra, chân tay bủn rủn. Ra sao thì ra, nó không thể xách nước được nữa. Ở nhà giờ này có bát cơm nguội hay củ sắn vào bụng rồi…
            - Xong chưa mà ngồi đấy?
Nó đáp:
            - Tui làm không nổi. Đói quá, mệt quá.
Anh công an nhìn chằm chằm vào mặt nó:
            - Con nhà nông mà lười lao động. Mấy cái việc vặt này mà không làm nổi thì bảo sao không vướng vào…
Bỏ lửng câu nói, cho nó nghỉ, bảo nó rửa mặt rồi vào phòng làm việc của anh ta ngồi chờ. Từ bếp ăn tập thể trở về, anh công an đưa cho nó bát ngô răng ngựa hầm.
            - Tiêu chuẩn sáng của chúng tớ đấy, ăn tạm nhé!
Bát ngô hầm cứng, chưa sạch mùi vôi nên dù đói thằng Vệ cũng không thể ăn nhanh được. Nhìn nó nhai trệu trạo, anh công an cười:
            - Mỏi răng lắm hả? Trừ lúc đói quá, nếu không tớ nhịn luôn.
          Anh công an cũng không ác lắm, thằng Vệ nghĩ thế. Mình bị ăn cái tát là cũng do mình. Nhưng mà đau quá. Có lẽ anh ta thường xuyên luyện võ nên mạnh tay chăng? Người ta nói công an giỏi võ. Mà không giỏi sao bắt cướp, bắt gián điệp! Làng nó hồi trước có ông Bát Sinh giỏi võ lắm, chưa một ai to tiếng với ông. Không dám vì sợ bị đánh hay ông hiền quá nên không đụng chạm đến ai không biết nữa. Cứ có võ là thích rồi! Các anh lớp trước xin ông dạy võ cho, ông nói:
            - Học võ phải kiên trì, mất thời gian lắm. Thời bình rồi các cháu học chữ, học nghề tốt hơn…
Nó nghĩ lan man, quên cả nhai, anh công an hỏi:
            - Không ăn nổi à? Ra bể rửa giùm cái bát rồi vào đây làm việc.
Thằng Vệ đứng lên, nó nghĩ phải “hỏi cung” chứ sao lại “làm việc”? Thôi, mặc kệ, gì cũng được, mong sao sớm được thả là được, nằm một đêm buồng giam ớn lắm rồi.
            Khi nó ngồi xuống chiếc ghế thì anh công an đã để sẵn tờ “biên bản lấy lời khai” trên bàn. Anh vừa hỏi vừa ghi.
            - Cậu trộm phân đạm hợp tác xã bao nhiêu lần?
            - Hai lần.
Dừng lại một chút, anh công an nói:
            - Thế cậu bán phân đạm mấy lần?
Thằng Vệ cúi mặt xuống bàn:
            - Dạ, ba lần.
            - Thế sao nói ăn cắp có hai lần?
            - Dạ, một lần lấy ở nhà hai lần lấy ở kho hợp tác xã.
Rồi đột nhiên nó nói:
            - Em khai hết anh có cho em về không?
Anh công an gõ gõ cây bút lên mặt bàn.
            - Cũng còn tùy thuộc vào mức độ thành khẩn hay diễn biến sự việc nữa.
Rồi anh lấy tờ giấy manh đưa cho nó, nói:
            - Cậu viết tường trình vào đây, theo thứ tự sự việc, không được bỏ sót chi tiết nào nhé.
            Thằng Vệ cố gắng nắn nót, mấy dòng đầu nét chữ khá đều rồi sau đó cứ xiên xẹo dần. Nó chặc lưỡi, thôi kệ, miễn người ta đọc được là được, có phải làm văn để chấm điểm đâu. Viết xong mặt giấy, ngẩng lên không thấy anh công an đâu cả nó lại cúi xuống viết tiếp. Từ khi đi học đến giờ chưa khi nào nó nghiêm túc như lúc này. Bài văn cô giáo cho về làm ở nhà phải bốn năm bữa nó mới viết xong. Có lần, bài văn của nó được cô giáo đem ra đọc “mẫu”. “Một bài văn mẫu vì lỗi diễn đạt và logic”. Đề bài nói về gương lao động, học tập của anh thương binh ở địa phương mà em biết. Lúc đầu nó viết về chú Tấn, được nửa mặt giấy nó sực nghĩ chú Tấn không phải là tấm gương “học tập”, với lại chú nhiều người yêu quá, ai cũng biết nên nó không viết nữa, bỏ vào túi xách, để đấy rồi quên béng đi. Sinh hoạt mười lăm phút đầu giờ, lớp phó học tập nhắc cuối buổi nộp bài cho cô, nó mới cuống lên, hỏi mượn bài thằng Huy sứt để chép thêm vào phần bài nó đã viết. Nó sửa đôi chút cho cô giáo không phát hiện. Thằng Huy sứt viết: “Anh Diệu bị hai vết thương, một ở chân trái, một ở Khe Sanh”, nó sửa: “Anh Điệu bị hai vết thương, một ở Khe Sanh, một ở chân phải”…Đoạn đầu nó viết về chú Tấn, khúc sau lại “anh Điệu”, cô giáo hỏi sao lại thế, cả lớp cười ầm lên, con Thu lém chọc: “Đó là tên khác của của chú Tấn mà bạn Vệ mới “phát hiện” cô ạ”…

            Có bước chân đi ngang qua trước cửa, nhìn ra thấy ông chủ nhiệm hợp tác xã và bà kế toán Diệu Ly. Thấy nó, ông ta cười khẩy, quay sang bà kế toán, cốt cho nó nghe thì phải:
            - Anh Cường đội trưởng hẹn gặp ở phòng làm việc. Vào đồn công an bọn trộm cắp khôn hồn thì người ta nói gì nghe nấy, bảo chép gì phải chép nấy, nếu không ở tù mọt gông.
Nghe lão nói mà ghét. Người ta kháo nhau lão là con mọt có cỡ. Công xá chủ nhiệm, giỏi lắm gấp đôi bố nó, năm thì mười họa mới ra đồng nhưng nhà ngói cột lim, xe đạp hai cái. Lão ta  cưỡi chiếc fa-vô-rít Tiệp, bà vợ thỉnh thoảng trèo lên chiếc xe mi-fa, mỗi khi đạp phải nhón chân, lưng lắc lư theo cái mông đít ngoay ngoáy, nhìn từ phía sau ai cũng phải bật cười. Cái xe mi-fa chắc không rẻ hơn chiếc fa-vô-rít, thằng Đinh, con lão đạp xe đến trường, đám học trò xúm đen xúm đỏ bóp chuông, thử phanh, có đứa hỏi giá bao nhiêu, nó vênh mặt: “fa-vô-rít đạp ít đi nhiều, ai hỏi bao nhiêu - một ngàn năm chục”.
            Khoảng mười giờ sáng anh công an mới quay lại. Cầm bản tự khai của thằng Vệ đọc đi đọc lại mà vẻ mặt cứ trầm ngâm. Thằng Vệ sốt ruột hỏi:
            - Khi nào thì em được về hả anh?
Anh công an không trả lời câu hỏi của nó, hỏi lại với tiếng “em”, nghe thân mật hơn:
            - Khi em đến kho có nhớ chất mấy lớp bao không?
            - Em không để ý nhưng chất dưới thăt lưng của em.
            - Bằng cách nào em tháo hai tấm ván vách sau được?
Thằng Vệ trả lời việc nó nhìn thấy hai tấm ván không lắp vào ngạch dưới, chỉ cần xoay một chút là gỡ ra được. Anh công an lại hỏi:
            - Lần lấy bảy kg em có gỡ ván ra không?
            - Em không gỡ, chỉ lấy ống nứa vót nhọn thọc qua khe xuyên vào bao cho nó chảy ra thôi.
Anh công an gõ gõ bút trên bàn, thằng Vệ hỏi:
            - Anh cũng biết đánh trống đội à?
            - À, ừ, hồi học cấp hai anh tham gia đội nghi thức của trường. Rồi anh hỏi lại nó:
            - Lần sau lấy trộm xong em có dựng tấm ván lại không?
            - Dạ có.
            - Vì sao em dựng lại?
            - Em sợ người ta phát hiện.
            - Em sợ phát hiện, lắp lại để sau này lấy tiếp, đúng không?
Thằng Vệ nhìn anh công an, ánh mắt trong sáng:
            - Anh đoán sai rồi, anh không nghe người ta nói “sự bất quá tam” à?
            - Là sao?
            - Là đi ăn trộm lần thứ ba sẽ bị lộ. Bà Tuyết và mấy bà, cả bố em cũng từng nói như thế.
            - Em có tin không?
            - Sao không tin, em bị bắt rồi đấy thôi!
Anh công an rót cho nó ca nước, chờ nó uống xong, anh hỏi:
            - Em không sợ ăn cắp nhà trường biết chuyện sẽ đuổi học à?
            - Em không sợ, nhà trường không đuổi em cũng nghỉ học.
            - Sao thế?
            - Tại em học dốt quá.
            - Vì em không chịu khó thôi, anh trông em mặt mũi cũng sáng sủa đấy chứ. À, mà sao em vác được hai bao?
            - Khiêng chứ anh! Nó buột miệng.
Anh công an nhìn thẳng vào mắt nó, nói chậm rãi:
            - Em nói khai thành khẩn nhưng thật ra em còn che dấu người phạm tội. Anh biết điều đó, em có cần anh nói ra hay không? Anh muốn tự em nói để xem mức độ thành khẩn đến đâu mà thôi.
Thằng Vệ cúi mặt xuồng, nói lí nhí:
            - Em sợ…
            - Nhà trường đuổi học không sợ, vậy sợ cái gì?
            - Sợ bạn em nói không giữ lời.
            - Giữ lời hứa là tốt nhưng em giữ lời hứa với bạn là bao che cho tòng phạm, như vậy tội em nặng hơn đấy.
Ngần ngừ một lát, thằng Vệ nói:
            - Anh biết rồi em cũng nói luôn, là do em rủ thằng Tập. Em năn nỉ mãi nó mới nghe. Anh đừng bắt nó, nhà trường đuổi học nó thì bố nó giết nó mất, nó học giỏi lắm.
Anh công an trầm ngâm một lúc, lại gõ gõ cây bút lên bàn.
            - Thế em chia tiền cho cậu Tập như thế nào?
            - Em đưa nó ba đồng hai năm xu nhưng nó không lấy. Nó bảo nếu mua dép cho chị còn thừa tiền thì mua cho nó một xếp giấy trắng để nó kẻ giấy kiểm tra.
            - Mua dép cho chị là sao?
            - Chị em dành dụm tiền mua đôi dép nhựa gót cao, chưa mua được thì tiêu hết vì bố em bệnh.
            - Em cũng thương chị đấy nhỉ nhưng quà tặng phải tự tay mình làm ra mới có ý nghĩa chứ.
            - Em cũng biết vậy nhưng em tức…
            - Tức cái gì?
            - Bà Diệu Ly nói với vợ ông chủ nhiệm: “Con gái ông Bạc hỏi tui mua dép ở đâu, giá bao nhiêu. Tui nói mua ở cửa hàng bách hóa huyện, chỉ mấy đồng thôi hà…cái ngữ ấy là gà thì chịu kiếp gà đi còn se sua đội lốt công”.
            - Vì một câu nói mà em hành động như thế à? Nếu người ta xúc phạm nặng hơn thì em giết người ta chắc?
Mặt thằng Vệ đỏ lên, nói với anh công an bằng lời nói cương cường, vị thế của người không chịu lép, chịu kẻ khác ức hiếp:
            - Ai nói sao cũng mặc kệ nhưng bà Diệu Ly thì không thể được. Bà ta làm kế toán mà sao giàu thế? Em nghe người ta nói bà ta và cả ông chủ nhiệm nữa, giàu có là do tham ô. Bà ta đi làm ruộng như mọi người thì có giàu không? Giàu không chính đáng mà khinh người.
Anh công an đẩy ca nước về phía thằng Vệ.
            - Uống miếng nước đi.
Nhìn thằng Vệ như xem tướng, anh nói:
            - Giả sử đi, anh nói giả sử nhé, người ta tham ô, em ăn trộm thì có gì khác nhau. Em biết tham ô hay ăn trộm là xấu, cần phải lên án, trừng trị mà em cũng mắc phải đấy thôi.
            Thằng Vệ nghĩ anh công an nói đúng nhưng không biết nói sao cho anh hiểu mình ăn cắp không phải là cho mình, mình khác bà Diệu Ly và ông Hoàng Hói. Nó định nói ăn cắp một lần rồi thôi. Nói thế anh công an có tin không? Nó đã ăn cắp ba lần, mà lần sau lại nhiều hơn lần trước…Nó nghe nói bà kế toán và ông chủ nhiệm tham ô nhưng tham ô cái gì thì không ai chỉ ra được, chỉ thấy người ta giàu hơn, vượt bậc hơn xã viên hợp tác xã nên bàn tán vậy. Ghét nhất là vợ ông Hoàng Hói, bà Diệu Ly trước mặt người khác hở ra là khoe của, khinh người…
            Bà kế toán, ông chủ nhiệm đi ngang qua cửa phòng, họ nói chuyện với nhau nhưng có lẽ cốt để cho anh công an và thằng Vệ nghe thấy:
            - Để trong kho còn mất, vụ trước gửi nhà ông đội trưởng có trời mà biết được phải không anh?
            - Có lẽ phải họp toàn thể xã viên để lấy ý kiến đề nghị tống mấy thằng trộm cắp vào tù. Nhơn nhơn ở ngoài còn gì là an ninh làng xã nữa.
            Đợi họ đi ra khỏi cổng, anh công an nói với thằng Vệ:
            - Em ngồi đây viết bổ sung bản tường trình, viết đầy đủ các chi tiết em vừa nói nhé!

            Nói xong anh công an đi ra ngoài. Thằng Vệ bưng ca nước uống, chợt nó nhìn thấy chú Tấn dắt xe vào cổng đồn, chi Lài cắp nón cúi mặt đi sau. Nó nghĩ bố hay mẹ lên thì còn đỡ chứ chị Lài gặp nó thì làm toáng lên cho mà xem.

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

CHUYỆN TÌNH VƯỜN CHUỐI


Một đêm trăng sáng bờ sông
Những tàu lá chuối ưỡn cong hứng tình
Gió đùa, cợt nhả gái trinh:
“Nằm đây chơi chút, một mình vội chi”.
Nằm nghe tàu chuối hát ru
Nở vào giấc ngủ vô tư nhẹ nhàng,
Gió hư tốc mứn…lộ hàng
Trêu ngươi, thách thức anh chàng Chí say,
Duyên trời đã định ở đây
Làm chồng cái đã…sau này…tính sau!
Lạc hoan như có phép màu
Dở, ương “yêu” cũng chiều nhau lạ kì,
Yêu cho hồn tái phách tê
Cho no  thân xác cho mê mẩn đời,
Yêu cho ngưng cả đất trời
Ánh trăng thấm đẫm sương rơi vườn tình!...

Chuyện “yêu” chẳng kể đẹp, xinh
Chí liều mà Nở hớ hênh…thế là…