Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

VÁN CỜ TƯỚNG

          
          Chiều nào cũng vậy, dưới tán cây phượng trước sân nhà lão Tàu, mấy ông cán bộ hưu trí tụ tập đánh cờ, tán dóc. Chuyện ta chuyện tây, chuyện bồ bịch của mấy bà sồn sồn, chuyện học sinh mất dạy đến chuyện nhân sự đại hội các cấp…tóm lại, chuyện trên trời dưới nước đủ cả. Chen lẫn giữa những lời khen chê, bình phẩm là tiếng đập ăn quân cờ chan chát và giọng hát khàn khàn của lão Tàu tự biên tự diễn chọc tức đối thủ.
            Lão Tàu cao cờ, mình lão chấp mấy ông hưu trí. Bàn tán, chỉ trỏ thế nào cũng được nhưng “hạ thủ bất hườn”. Ông Nam vừa chạm tay vào con mã, ông Nhật cản lại:
            - Bác lên mã pháo nó thọc xuống lấy gì mà đỡ?
            - Không lên mã nó đè mãi, bí rì rì. Ông An tiếp lời.
            - Mấy ông có ai địch nổi ông Nam đâu mà cứ quân sư quạt mo, bàn đi tính lại lộ hết nước cờ. Anh Thái lên tiếng.
Ông Nam nhìn bàn cờ chăm chăm một lúc rồi tấn con chốt biên. Cờ bí gí tốt, cha ông chả dạy thế là gì.
            - Con chốt lên sông (mà) con chốt lên sông ..thì ông (mà) xuống pháo, í ỉ ì i…
Lão Tàu vừa xoa cằm vừa hát, rồi lui con pháo về hai vạch. Thế cờ ấy lộ rõ ý đồ lão Tàu. Nước tiếp theo là bình pháo hăm ăn tượng chiếu bí. Nếu ông Nam lui xe về giữ thì chết không con mã.
            Chờ ông Nam tính nước, lão Tàu móc túi lấy tẩu thuốc ra mồi, quay sang hỏi anh Thái:
            - Chú có nghe Năm Thận xin chuyển công tác đâu không?
            - Ổng nói không xin, đưa đi đâu thì đi đó.
            - Ông nhe ai nói mà chuyện gì cũng biết, cứ như ma xó? Ông Nhật hỏi.
Kéo một hơi thuốc thật dài, nhẩn nha nhả khói, lão Tàu trả lời:
            - Chuyện đại sự của phường cũng phải quan tâm chút chứ. Cứ quan tâm ắt có thông tin.
            - Vậy ai thay Năm Thận? Ông Nhật tiếp tục.
            - Cậu Phương phó bí thư Thị đoàn.
Ông Nam đang suy đi tính lại nước cờ cũng không khỏi ngạc nhiên:
            - Ông nói sao chứ cánh Bảy Lộc, Hai Dũng, Sáu Bé đi đâu?
            - Ai bắt các ông tin, sự đời thế - thế thời phải thế. Nghệ thuật sắp đặt cả!
            - Ông nói thế chứ, việc bầu cấp ủy, bí thư do đại hội quyết định. Điều lệ qui định rõ rồi mà.
Lão Tàu gõ tẩu thuốc xuống bàn, cười cười:
            - Ông vẫn chưa đi à, lâu thế? Sắp tới thế nào ông không dự Đại hội, chuyện đó sẽ rõ ngay mà. Tôi là tôi tiếc cho Năm Thận.
Ông Nam lui con xe về giữ tượng, lão Tàu không ăn quân mã mà tấn chốt bảy sang sông:
            - Con chốt sang sông (mà) con chốt sang sông thành ông tướng giỏi, í ỉ ì i…
Nhìn nước đi ấy, ông An vỗ vai anh Thái:
            - Không ăn mã, gí chốt, lão này giỏi lừa thật!
Lão Tàu đáp:
            - Bàn cờ bày ngay trước mặt, qui định nước đi của từng quân cờ cụ thể như thế mà người ta còn lừa được nhau huống chi chuyện đại hội. Thậm chí bản thân người ta còn tự lừa dối mình nữa kìa.
Đặt chén nước xuống bàn, ông Nhật nhìn lão Tàu nghi ngoặc:
            - Ông nói rõ nghe coi.
Lão Tàu liếc ông Nhật, lia ánh mắt giễu cợt về phía ông An:
            - Các ông đánh cờ chỉ ham ăn quân, tôi khác các ông là nhìn toàn cục, thứ nhất là giữ được mình rồi sau đó mới dồn ép đối phương. Thuật đánh cờ giống chuẩn bị nhân sự đại hội, việc dụng binh, dùng người, cứ là phải gương đông kích tây…
Sợ lão Tàu nói chuyện đại hội lỡ có gì sai trái, có mình ở đây không tiện, ông An cắt ngang :
            - Chuyện ấy biết rồi, còn chuyện tự lừa dối mình?
            - Thì đấy, ngoài mặt thì bằng lòng, sâu thẳm trong lý trí cũng bằng lòng nhưng khi bỏ phiếu thì gạch tên với suy nghĩ: “để cho nó không được 100%, cho nó biết vẫn còn khiếm khuyết, vẫn còn người không tín nhiệm” – đấy là phiếu phạt. Còn cái vị được đưa ra “làm quân xanh” thì cho nó một phiếu kẻo tội nghiệp, có rớt cũng coi được. Cái thằng “quân xanh” biết thân biết phận, chẳng mất lòng ai nên được phiếu thưởng. Ấy vậy mà trúng cử. Bầu xong, có kết quả kiểm phiếu, lại tiếc rằng giá chi mình đừng bỏ phiếu phạt, vậy đó có phải là tự lừa dối mình không?
Máu chảy rần rật trên mặt ông An. Ông đã từng mấy lần như thế. Lão Tàu chỉ là thợ hớt tóc sao chuyện chi cũng rành, đúng là ma xó.
            Không gian như chùng xuống, lão Tàu lại móc tẩu ra mồi thuốc:
            - Đấy là chưa kể chuyện chạy chức, chạy quyền. Kỳ này Năm Thận không làm bí thư thì thể nào Miếu Tư văn cũng bị phá cho thuê đất làm cây xăng.
Ông Nam cầm quân pháo lên rồi để xuống, tiếp lời lão Tàu:
            - Năm Thận có tài, có tâm nhưng không được lòng cấp trên. Nếu biết nhẫn một chút thì đâu đến nỗi.
            - Nhẫn thì không còn là Năm Thận. Ông Nhật nói.
Ông Nam cầm quân pháo đập đánh chát vào con chốt bảy:
            - Sang sông này, tướng giỏi này, đập bể đầu quân xâm lược.
Lão Tàu lại cất giọng khàn khàn:
            -Con chốt (ấy mấy là) con chốt thí, (ấy mấy là) con chốt thí. Pháo tớ (mà) thọc xuống chưa bí vì còn mã hồi cung í ỉ ì i (mà) hồi cung í i (mà) hồi cung…
Rồi lão nói:
            - Ông nhẫn không được, lại bị phân tâm nên ba nước nữa là thua chắc.
Ông Nam chưa kịp trả lời, đã nghe tiếng bà Thoan réo trước cửa nhà:
            -Thằng Việt đi họp dặn ông đi đón cháu, vậy mà giờ này ông vẫn ngồi đó mà cờ với quạt!
Ông Nam vội xỏ đôi dép lê, đứng lên:
            - Chết, tôi quên đón cháu. Ván này tôi thua, bia mấy ông cứ uống, mai tôi trả.
Anh Thái ngồi xuống thế chỗ:
            -Còn nước còn tát. Bác có việc cứ đi, đã thua đâu, lão Tàu chỉ giỏi dọa người thôi. Mọi việc đã có em!
Nhìn cái dáng lật đật của ông Nam, lão Tàu thở dài:
            - Một thời hét ra lửa, vậy mà giờ này vợ nó ho một cái là co rúm cả người.
Bà Phượng – hay nói đúng hơn là cô Phượng, vợ lão Tàu bưng siêu nước châm thêm vào bình trà, góp chuyện:
            - Ngày xưa ông ấy hét ra lửa là nắm yết hầu kinh tế người ta, nói gì chả phải nghe. Giờ về hưu, vợ nó nắm kinh tế không nghe mà được à.
Ông Nhật nói đùa;
            - Vậy lão Tàu có dám không nghe cô không?
            - Ảnh không hiếp đáp là phúc cho tui rồi.
Ông Nhật nhớ lại ngày Phượng lấy lão Tàu, không biết bao nhiêu người tiếc. Nghe nói bà má Phượng chê lão Tàu già, Phượng nói: “Ảnh hơn con hơn hai giáp một chút chớ mấy”. Mấy bà chị dâu ôm bụng cười lăn cười lóc, bà mẹ cũng bật cười theo, thế là đất không chịu trời thì trời phải chịu đất. Sau này, thấy Phượng hạnh phúc, lão Tàu thường giúp đỡ con cháu trong nhà, má Phượng không dấu được sự thỏa mãn: “Con Phượng thế mà sướng, mấy đứa bạn cùng tuổi với nó, chồng trẻ, ông nọ bà kia mà không mấy đứa bằng”. Lão Tàu hớt tóc thu nhập chỉ bằng mức lương viên chức trung bình, đủ chi tiêu trong gia đình, thế mà lão giàu, chắc như cua gạch. Người ta làm ngày làm đêm, bon chen giành giật, trầy vi tróc vảy trong cuộc sống mới may có được cái nhà kha khá. Còn lão, cứ chơi chơi mà đụng vào đâu tiền đấy. Hồi mới manh nha chơi chim, một con năm chục ngàn đã là đắt lắm, lão mua bảy chục. Đám trẻ kháo nhau tìm chim hay bán cho lão. Chơi hơn năm, lão đem chim đi thi, con giải nhất, con giải ba của Hội chim thú và sinh vật cảnh. Mấy đại gia ở thành phố trả con dăm sáu chục triệu. Bảy con chim, lão kiếm hơn ba trăm triệu, rồi lão thành kẻ môi giới bán chim, ăn hai đầu, mỗi con kiếm dăm bảy triệu…
            Cầm chén trà đưa cho ông An, lão Tàu nói;
            - Ông có mặt tiền không buôn bán gì cũng uổng, theo tôi, ông mở tiệm bán trà bắc là đắc địa.
            - Sao lão không làm, mặt tiền của lão rộng gấp đôi của ông An đấy chứ?
Lão Tàu nhẩn nha nói với anh Thái:
            - Tôi hớt tóc, không mở tiệm trà được. Thứ nữa thấy vợ chồng ông An việc gì cũng trông vào mấy đồng lương hưu nên bàn thế thôi.
            - Ông An mở tiệm trà có kiếm được bằng lão hớt tóc không?
            - Anh hỏi hay thật, tôi nghĩ chí ít là bằng, có duyên buôn bán kiếm hơn là cái chắc.
            - Á…à…hơn mà lão không làm. Tôi hiểu rồi, mở tiệm trà khó môi giới bán chim, đi guốc trong bụng lão rồi nhé!
Lão Tàu bật cười khà khà, nhấp ngụm nước trà, nghiêm giọng:
            - Anh phải biết việc môi giới bán chim không phải lúc nào cũng có, hơn nữa chơi cái gì người ta cũng theo phong trào, nên có kiếm được chút ít cũng đừng nghĩ là bền vững, phải biết nhìn xa một chút anh ạ.
Ông Nhật sợ hai người cãi vã, vội lên tiếng:
            - Chú Thái đừng nghĩ oan cho lão Tàu, đánh cờ lão giỏi lừa chứ ngoài đời, không giúp được ai thì thôi chứ lão không bao giờ lừa ai đâu. Mấy con chim lão bán bõ bèn gì, lão giàu là nhờ đất, vật liệu xây dựng, xăng nhớt kia.
Anh Thái ngạc nhiên:
            - Tôi chỉ nghe lão phất lên nhờ chim!
Ông An, ông Nhật không nhịn được cười, lão Tàu cũng cười theo:
            - Phường mình có “mệnh phụ phu nhân” đâu mà phất lên nhờ chim(!) Với lại nếu có “phất lên nhờ chim” cũng không đến lượt tôi.
Ông Nhật nhìn  anh Thái cởi mở, thân mật:
            -Anh mới về phường nên chưa biết, lão Tàu phất lên là nhờ đất, nhờ đìa. Hồi mới làm lão cũng phải vay mượn. Trúng tôm ba vụ lão bán đìa mua đất. Hồi ấy ai cũng nói lão khùng, sau mới thấy lão quái chiêu.
Lão Tàu lại bập thuốc, nói với anh Thái:
            - Còn cố gỡ thế cờ này nữa thôi hay bày ván khác?
Anh Thái lui mã về chân sĩ. Lão Tàu đẩy con pháo xuống hàng cùng, niêm tướng cùng con mã.
            -Pháo tấn công (ấy mấy là) con pháo tấn công, con pháo thông nòng í i…mà thông nòng nã đầu tướng giặc í ỉ ì i…
            Vòng vây của lão Tàu ngày càng siết chặt, cứ từng bước, từng bước. Chơi với lão mới thấy mưu mô xảo quyệt, gương đông kích tây thâm hiểm vô cùng, khi cương khi nhu mà buộc người ta đi theo nước cờ định sẵn. Phô ra sức mạnh rồi dồn ép từ từ, không đánh vỗ mặt, chớp nhoáng. Lão chiếm được điểm nào là chắc điểm đó, phát huy nó thành pháo đài, thành chuỗi liên kết với nhau, bao vây đánh lấn, siết cổ người ta từ từ. Chơi với lão Tàu, ức mà chả làm gì được…
            Chờ nước cờ anh Thái lâu quá, ông An nói với lão Tàu:
            - Lão mách nước cho tôi mở tiệm trà bắc, ngẫm cũng có lý nhưng mà tôi sợ mình mở người ta cũng mở, e rằng lúc đó tiến thoái lưỡng nan.
Lão Tàu mân mê cái tẩu, một lát sau mới nói:
            - Người Việt là chúa a dua, hễ thấy ai làm gì được được một chút là ùa theo. Nhưng mà tham, a dua những cái lời nhiều, muốn làm giàu nhanh rồi khi đổ bể thành ra tay trắng. Tôi có được như ngày hôm nay là do biết sợ, nên nuôi tôm đến cao trào bán đìa mua đất, đang đà sốt đất tôi lại bán đất, đầu tư vật liệu xây dựng, cây xăng, những thứ ấy thời nào cũng cần. Trà bắc cũng vậy, ông mở tiệm lo gì không bán được. Với lại bán trà cóp nhặt từng đồng, không như nuôi tôm, nuôi ốc, khai thác hạt ươi nên người ta không a dua đâu mà ông sợ.
            Nghe lão Tàu nói vậy, anh Thái mới hiểu ra rằng, lão chính là nhà kinh tế học ứng dụng, không trách gì lão mó vào đâu là có tiền đấy. Tầm như lão mà làm cán bộ phường chắc chắn sẽ có nhiều việc làm cho dân, nhiều nguồn thu cho ngân sách. Chả bù cho mấy ông lãnh đạo cấp phường, cấp thị, đại học, thạc sĩ kinh tế, cao cấp chính trị đầy mình mà kinh tế địa phương mãi cứ lẹt đẹt, tổ chức lễ hội gì cũng phải nhờ vào sự tài trợ doanh nghiệp hay ‘ủng hộ” ngày lương của công nhân viên chức…
            Ông Nam chở cháu về nhà, thấy đám cờ chưa tàn nên quẹo xe vào. Thằng Tài, cháu ông Nam cũng vào xem. Nó hỏi anh Thái:
            - Bác bí nước đi phải không?
Anh Thái xoa đầu nó:
            - Cháu cũng biết chơi cờ à?
            - Thỉnh thoảng cháu đánh với ông nội vài ván.
            - Thế cháu có địch lại ông không? Lão Tàu hỏi.
Thằng Tài cười láu lỉnh:
            - Ông xin hườn nhưng cháu không cho.
Ông Nam tính kéo thằng Tài ra, anh Thái ngăn lại:
            - Ông cứ để cho cháu nó xem. Ván này coi như tôi thua.
Quay qua thằng Tài, anh Thái cười nói:
            - Bây giờ theo cháu thì đi nước nào?
            Thằng Tài nhìn bàn cờ một chút rồi nó nói một lèo:
            - Bác đập con xe vào sĩ, tướng ăn ra, thọc con xe đang giữ tượng xuống chiếu tướng, tướng phải trồi lên rồi lại lui xe về giữ tượng, nếu ông Tàu tức quá, dùng pháo ăn tượng thì xe bác ăn quân pháo rồi bình ra biên. Nhưng mà bác phải nhớ trước lúc lui xe về giữ tượng phải luôn luôn chiếu để tướng phải trồi lên cái đã. Nước cách nước chiếu là huề phải không bác?
            Mọi người bật cười về quái chiêu nước cách nước chiếu của thằng bé. Cù chuầy để gỡ hòa rõ ràng không “quân tử” lắm, nhưng thế cờ ấy, đó là giải pháp tốt nhất.
            Lão Tàu xoa đầu thằng Tài, vào nhà mở tủ lấy ra quyển sách “Vạn kỳ thế chiến” tặng thằng bé. Nó nói:
         - Cảm ơn ông đã tặng cháu “bí kíp”. Nhưng mà thế cờ trong sách vở không phải lúc nào cũng giống như đánh cờ ở ngoài ông ạ!

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

MẸ VÀ QUẢ - BÀI THƠ HAY CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM


MẸ VÀ QUẢ

          Những mùa quả mẹ tôi hái được
          Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
          Những mùa quả lặn rồi lại mọc
          Như mặt trời, khi như mặt trăng.

          Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
          Còn những bí và bầu thì lớn xuống
          Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn
          Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.

          Lũ chúng tôi một thứ quả trên đời
          Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái
          Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
          Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.

          Người mẹ - nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Từ xưa tới nay, từ Á sang Âu, hình tượng người mẹ luôn tỏa sáng lung linh tấm lòng nhân hậu, bao dung, độ lượng, suốt cả cuộc đời vì chồng vì con, vì quê hương đất nước. Khi viết về người mẹ, mỗi tác giả có một cách thể hiện khác nhau, điều đó phụ thuộc vào cung bậc cảm xúc, năng khiếu thẩm mĩ và hình thức thể hiện.
          Bài thơ Mẹ và quả của Nguyễn Khoa Điềm (in trong tập Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Văn học, Hà Nội, 1985) viết về mẹ say lòng người đọc bởi hơi thơ hồn nhiên mà sâu lắng, ngôn từ giản dị nhưng tính khái quát, chiêm nghiệm cao hòa trong mạch cảm xúc yêu thương, kính trọng vô bờ.

          Đọc khổ thơ đầu, khá thú vị với cách viết của nhà thơ:
          Những mùa quả mẹ tôi hái được
          Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng
Tại sao tác giả không viết:
          Những mùa vụ mẹ tôi thu hoạch
          Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng.
Khi nói đến mùa vụ, người ta nghĩ ngay đến vụ chiêm vụ mùa. Ngoài vụ chiêm vụ mùa mẹ còn phải gieo trồng rau màu bầu bí, mỗi thứ một tí, gom góp nuôi đàn con khôn lớn. Suy cho cùng, hạt lúa cũng là một loại “quả”, vậy nên “mùa quả” có tính khái quát hơn.
          Đến câu thơ thứ hai: Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng, người đọc băn khoăn với chữ “trông”. Theo Từ điển Tiếng Việt, “trông” có những nghĩa sau: 1. Nhìn để nhận biết; 2. Để ý nhìn ngó, coi sóc, giữ cho yên ổn; 3. Mong; 4. Hướng đến với lòng hi vọng, mong được giúp đỡ…Như vậy, chữ “trông” trong câu thơ hiểu với 3 nghĩa trước là đúng; theo nghĩa thứ 4, câu thơ là sự khẳng định: mùa quả của mẹ do mẹ quyết định, chẳng trông ngóng mong chờ vào ai khác.
          Mặt trời mọc, mặt trăng lặn là sự tiếp nối không ngừng nghỉ của thời gian, tác giả lấy qui luật này để so sánh với mùa quả của mẹ. Thời gian tuần hoàn, liên tiếp, mùa quả của mẹ cũng vậy. Thời gian không ngưng đọng mẹ không ngưng tay. Thời gian có sáng có tối, mùa quả của mẹ khi bội thu lúc thất bát. Cách so sánh mới lạ nhưng hồn nhiên với hình ảnh đẹp:
          Những mùa quả lặn rồi lại mọc
          Như mặt trời, khi như mặt trăng.

          Khổ thơ thứ hai, hai câu đầu tác giả đối chiếu: “lũ chúng tôi” với “bí và bầu” trong không gian ba chiều, ngôn từ ngộ nghĩnh của lứa tuổi đồng giao:
          Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
          Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Cái hình dáng “lớn xuống” được liên tưởng:
          Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn.
Viết được như vậy đã thể hiện sự biết ơn, đã thấy được công lao to lớn của mẹ. Câu thơ thứ tư, câu kết của khổ hai, không ngừng lại ở đấy, cao hơn, là sự thấu hiểu:
          Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi.
Giọt mồ hôi rỏ xuống lòng mẹ thầm lặng. Câu thơ thể hiện sự từng trải, chiêm nghiệm. Thầm lặng là âm thầm, lặng lẽ, ít ai biết đến. Nếu tác giả viết: Chúng mang dáng giọt mồ hôi mặn, Rỏ xuống vườn cây trái mẹ tôi thì mới dừng lại ở sự vất vả khó nhọc. Với mẹ, vất vả khó nhọc ấy thường tình. Nỗi vất vả lớn hơn mẹ phải gánh chịu là sự cô đơn, nhớ nhung, âm thầm chịu đựng. Đặt bài thơ trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh lúc ấy, một tay mẹ nuôi đàn con khi chồng “đang đánh giặc cuối trời”, giọt mồ hôi mặn như lại càng mặn hơn. Câu thơ như chìa khóa, giải mã hai câu thơ đầu khổ một. Giờ đây chúng ta hiểu vì sao: “Những mùa quả mẹ tôi hái được/ Mẹ vẫn trông vào tay mẹ vun trồng”.

          Khổ cuối, câu thơ đầu: “Và chúng tôi một thứ quả trên đời” là một so sánh hay, logic, tiếp nối cặp đôi đối xứng ở khổ trước: “Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên //Còn những bí và bầu thì lớn xuống”. “Bí và bầu” được tác giả dùng đại từ “chúng”. Chúng tôi – chúng nó, lớn lên – lớn xuống đều từ một tay mẹ chăm sóc cả.
          Nhưng có lẽ là bí và bầu ngoan hơn, mẹ hái chúng biết bao nhiêu mùa vụ. Còn chúng tôi:
          Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hái.
Bảy mươi tuổi – “Nhân sinh thất thập cổ lai hi” (Đỗ Phủ), theo logic phổ thông thì những đứa con của mẹ đang độ tuổi 30 – 50. Ba mươi tuổi: “Tam thập nhi lập”; bốn mươi tuổi: “Tứ thập nhi bất hoặc”; năm mươi tuổi: “Ngũ thập tri thiên mệnh”. Ấy vậy mà mẹ vẫn phải “mong chờ”. Mong chờ con cái phương trưởng, thành đạt về mọi mặt. Mong chờ của mẹ theo suốt từ con sang cháu. Với mẹ, dù con đã “ngũ thập tri thiên mệnh” thì vẫn là đứa con cần quan tâm, bao bọc, chở che như ngày nào.
          Hai câu cuối của khổ thơ cũng là hai câu kết của bài. Nỗi hoảng sợ của tác giả khi một ngày nào đó mẹ ra đi (ngày bàn tay mẹ mỏi):
          .Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi
          Mình vẫn còn một thứ quả non xanh
“Quả non xanh” – chưa thu hoạch được; “lũ chúng tôi một thứ quả trên đời” – còn non xanh, nghĩa là mẹ chưa được hái. Hiểu được tâm nguyện của mẹ, hiểu được khả năng của mình để luôn luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, đó chính là cái cách báo hiếu tốt nhất. “Hoảng sợ” của tác giả là sự giật mình nhìn lại quãng đời đã qua của bản thân, quảng đường ngắn ngủi còn lại của mẹ. Thời gian có đủ cho con “chín”, cho mẹ được hưởng thành qủa suốt cả cuộc đời âm thầm hi sinh, chăm sóc, mong chờ? Cái giật mình của tác giả cũng là cái giật mình của độc giả, chúng ta vô tâm quá!

          Chỉ với ba khổ, mười hai câu thơ ngôn từ giản dị nhưng tác giả khắc họa đậm nét hình tượng người mẹ trong lòng độc giả. Giọng điệu thơ có cách nhìn sự vật của trẻ con, có sự chiêm nghiệm, đúc kết, hồi tưởng của người từng trải nhưng đều đồng nhất tấm lòng biết ơn, thấu hiểu. Cảm xúc kính trọng, yêu thương mẹ chân thành, da diết gói gọn trong cấu tứ chặt chẽ, ngôn từ hàm ẩn, tinh tế, tài hoa, bài thơ mãi say lòng người đọc mà mỗi đời thơ có được những bài thơ như thế không nhiều.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

MÙA CỦA TA, MÙA CỦA EM

         
            Ta đắm say hương sắc mùa xuân
            Nghiêng má đón gió lào mùa hạ
            Mùa thu trầm tư đếm lá
            Ghé môi hôn giá lạnh mùa đông.

             Mùa xuân đi như dáng em đi
            Mùa hạ gió vờn bay mái tóc
            Thăm thẳm xanh thu trong đôi mắt
            Đông về em hồng má đỏ môi.

            Mùa của ta có buồn có vui
            Có nắng đẹp có mưa dầm rả rích
            Có bão giông chân trần tất bật
            Nắng cháy đồi, nứt nẻ đầm ao…

            Mùa của em trời xanh thẳm tầng cao
            Vàng trái cam trăng lăn tròn đĩa ngọc
            Có lẽ anh là anh nên khác
            Em trong mùa, mùa gieo hạt thi ca!...

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

VỀ MIỀN KÝ ỨC XA XĂM

       
          Ta trở về miền ký ức xa xăm
          Khi không buồn vui chỉ đầy trống vắng
          Cái khoảng trống vắng kia mông lung nằng nặng
          Hình bóng người xưa ẩn hiện chập chờn.

          Ta tự hỏi mình thế có phải cô đơn
          Cô đơn giữa dòng đời nói cười hỉ hả,
          Có những nụ cười dối trá
          Và  phản xạ tự nhiên cười để mà cười
          Ngẫm sự đời ta cũng nhếch môi…

          Miền xa xăm ta trở về trong trẻo
          Nơi ước mơ và mơ ước dắt tay nhau
          Nơi ánh trăng ngần nựng nịu hoa cau
          Nơi hò hẹn em bắc cầu dải yếm.

          Ta căng buồm hướng về phía biển
          Chẳng để ý gì gió mát sau lưng
          Trên nẻo đường đời ta nếm trải cuồng phong
          Nếm trải bão giông da người mặt nạ!...

          Trên nẻo đường đời dấu chân ta hóa đá
          Che nụ nâng hoa ta đâu sá bão giông,
          Ta trở về miền ký ức xa xăm
          Lấp trống vắng mông lung vững vàng ta bước tiếp!

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

Em tưởng nước giếng sâu

          
  Trong cuộc sống, thành đạt nói chung phụ thuộc vào sự lựa chọn. Bà nội trợ khéo chọn mớ rau, con cá thì sẽ có bữa cơm ngon. Người đi học xác định đúng mục đích, lựa chọn ngành nghề phù hợp năng lực bản thân, có phương pháp học tập tốt chắc chắn thu được kết quả tốt…Về phương diện tình cảm, chẳng hạn như tình yêu đôi lứa, việc lựa chọn vô cùng quan trọng, nó quyết định cuộc đời người ta hạnh phúc, đau khổ hay cam chịu và luyến tiếc.
            Ngày xưa, xã hội phong kiến hà khắc, nhất là trong quan hệ khác giới. Hàng loạt qui tắc ứng xử trói buộc: “nam nữ thụ thụ bất thân”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “tại gia tòng phụ, vuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”…Cưới hỏi phải có mai mối. Bà mai ông mối giỏi thì khiếm khuyết của trai gái đều được che lấp, thành đôi thành lứa được cả. Cô gái sứt môi thì cầm bông hoa ngửi, chàng trai thọt thì cưỡi ngựa dạo qua, vậy mới có tích “Cưỡi ngựa xem hoa”. Rồi đêm động phòng hoa chúc mới té ngửa ra, nửa kia của mình không như mình tưởng.
            Cũng lắm khi người con trai, con gái vượt qua những qui tắc, lễ nghi để đến với nhau: “Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng/ Tre non đủ lá đan sàng nên chăng…”, “Bây giờ mận mới hỏi đào…”. Nhưng phần lớn, đó là những cuộc “gặp gỡ ngẫu nhiên” mà thôi. Thời gian tìm hiểu bạn tình, nhất là phía nữ thường ngắn ngủi, vội vàng bởi một lẽ phải tránh miệng lưỡi thiên hạ. Do thiếu lượng thông tin cần thiết nên sau khi kết hôn, họ sống cuộc sống cam chịu đầy tiếc nuối:
            Em tưởng nước giếng sâu
            Em nối sợi gầu dài
            Ai ngờ nước giếng cạn
            Em tiếc hoài sợi dây.
            Khi đọc bài ca dao này, trước mắt tôi như hiện ra cảnh một chàng trai đi làm ăn xa trở về, gặp lại người con gái mà trước khi ra đi anh đã: “Ra đi anh có dặn rằng/ Nơi hơn thì lấy, nơi bằng đợi anh”. Muốn đợi cũng chẳng được, bởi em với anh có duyên nhưng không có phận. Cha mẹ đặt đâu em ngồi đó:
            Ba đồng một mớ trầu cay
            Sao anh không hỏi những ngày còn không
            Bây giờ em đã có chồng
            Như chim vào lồng, như cá cắn câu
            Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
            Chim vào lồng biết thuở nào ra.
Trả lời câu hỏi của “người xưa” rất chân thật mà tế nhị, nói về tình duyên mà không có một từ nào thuộc cung bậc xúc cảm yêu thương: mong, nhớ, đợi, chờ, trông, ngóng…Em tiếc nuối một sợi dây gầu, sợi dây cột chặt số phận. Cô thú thật:
            Em tưởng nước giếng sâu
            Em nối sợi gầu dài
“Tưởng” là nghĩ và tin chắc (điều thật ra không phải). Chồng em – “nước giếng sâu” là một ẩn dụ (có thể là học vấn, tài hoa, danh tiếng, giàu có…) không như em nghĩ. Vâng, đúng là em chủ động lựa chọn đấy chứ có phải cha mẹ đâu. Em chọn nên em chịu, nào dám trách ai…Nhưng tôi cứ nghĩ cô gái nhận hết những điều không tốt về mình. Nói cha mẹ ép gả chắc gì anh đã tin. Hơn nữa, việc đã rồi, nói như vậy để hình ảnh em trong anh ‘tầm thường” đi, đừng luyến tiếc gì nữa. có như vậy anh mới mau chóng có tình duyên mới…Vì “tưởng”, em hân hoan nối sợi gầu dài bao nhiêu, khi thả xuống giếng, em lại thất vọng bấy nhiêu:
            Ai ngờ nước giếng cạn
            Em tiếc hoài sợi dây.
“Ngờ” là cảm thấy khó tin và nghĩ là có thể không phải như thế mà là cái gì khác, nhưng không có cơ sở để khẳng định. “Ai ngờ” là sự khẳng định “việc đáng ngờ” là đúng.
            Em tiếc hoài sợi dây là chấp nhận và cam chịu. Chấp nhận và cam chịu, vì như anh biết đấy, các mối ràng buộc gia đình, họ tộc, lệ làng, đạo đức, phẩm hạnh…của xã hội, em không thể làm khác được. Thật lòng, em tiếc mãi sợi dây gầu của em vì “Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người” (Xuân Diệu).
            Nếu như: Ai ngờ nước giếng cạn/ Em tháo rời sợi dây thì đó là sự tự giải phóng rồi. Điều này sẽ có, nó xảy ra trong một xã hội tiến bộ hơn. Nhìn từ góc độ thời đại, đôi khi Em tháo rời sợi dây chấp nhận được, giải phóng cho nhau ít nhiều chứa đựng tư tưởng nhân văn!
            Bài ca dao là một nỗi niềm, một lời thổ lộ chân thật. Nó là tiếng thở dài nhẹ em đang cố nén lại. Suy cho cùng, đó là sự trách mình, là sự tiếc nuối về một sự lựa chọn.
            Có ý kiến cho rằng bài ca dao Em tưởng nước giếng sâu là lời của cô gái nói với người mình yêu. Khi yêu nhau, chưa có ràng buộc về gia đình, luật pháp, biết “nước giếng cạn” thì hà cớ gì em phải nối sợi dây dài? Chúng ta từng bắt gặp trong ca dao lời nhắn gửi “ai đó” khi người nói ngờ rằng ‘ai đó” tính chuyện “bắt cá hai tay”:
            Đã yêu thì yêu cho chắc
            Cầm bằng trục trặc,  trục trặc đi luôn
            Đừng như con thỏ đầu truông
            Khi vui giỡn bóng, khi buồn giỡn trăng.
            Bài ca dao Em tưởng nước giếng sâu chỉ với bốn câu, hai mươi chữ mà thấm đượm một nỗi niềm. Thời gian trôi qua biết bao nhiêu năm tháng, người đọc trăn trở, thương cảm, xót xa thì người trực tiếp nghe tiếng thở dài cố nén ấy chắc có lẽ cháy ruột cháy gan.
            Về mặt nghệ thuật, bài ca dao sử dụng thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ với “nước giếng sâu”, “sợi gầu dài”. Cái thú vị chúng ta biết được “nước giếng sâu” chỉ người chồng của em, bởi tục ngữ có câu: “Đàn ông nông nổi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.” Và từ câu tục ngữ ấy, em khéo léo vận dụng để nói về hoàn cảnh của mình! Thông minh, sâu sắc như vậy mà cuộc đời chứa chất cay đắng, tôi nghĩ em trong bài ca dao là một Hồ Xuân Hương trong dân gian.
            Về mặt ý nghĩa, bài ca dao để lại cho hậu thế biết cái giá phải trả trong tình yêu đôi lứa khi quyết định lựa chọn mà không đầy đủ lượng thông tin cần thiết. Thế nhưng, trong thời đại ngày nay, thời đại tự do hôn nhân, điều kiện thông tin quá dễ dàng mà đây đó người ta vẫn lầm tưởng. “Tình yêu là mù quáng” chăng? Chiêm nghiệm vấn đề này, tôi nghĩ đôi khi tình yêu đôi lứa bắt đầu bằng lí trí có thể hạn chế thăng hoa, phiêu du nhưng bền vững.

            

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015

SAO EM CHIẾM HẾT KHÔNG GIAN ẤY

       
        
          Ta đợi mùa xuân hoa vàng nụ
          Đắm chìm trong hương sắc ngất ngây
          Rộn rã tiếng sẻ bầy gọi bạn
          Gót hồng qua đàn sẻ vù bay.

          Ta chờ mùa hạ đón gió lào
          Thả cánh diều mộng vào trời cao
          Em bước triền đê tà áo khép
          Cánh diều ta ngưng gió thôi chao.

          Ta ngóng mùa thu ngắm nắng vàng
          Bảng lãng trông theo cánh sếu giang
          Trời xanh xanh thẳm dòng sông biếc
          Thuyền em qua ta hết mơ màng…

          Ta trông mùa đông sương xuống dày
          Rét sao cho thật buốt đôi tay
          Cho cây lá rụng thêm tiều tụy
          Mà giọng nói em ấm cỏ cây.

          Ta đợi ta chờ ta ngóng trông
          Tìm chút riêng tư để trải lòng
          Sao em chiếm hết không gian ấy
          Chiếm trọn hồn ta em biết không?!

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

NGÀY EM XA...

       
          Cái ngày em xa anh
          Sao bất ngờ đến thế
          Biết cuộc đời dâu bể
          Mà sao cứ thắt lòng!

          Giờ đâu phải mùa đông
          Mà  tim anh giá lạnh
          Hoa xuân vàng trong nắng
          Rực rỡ cho lòng ai?

          Bao dự tính tương lai
          Giờ chỉ là ảo vọng,
          Em mặc anh trông ngóng
          Mặc anh ôm nỗi buồn!

          Cái ngày em yêu anh
          Hoa cũng vàng lối ngõ
          Đôi má em ửng đỏ
          Xao xuyến nụ hôn đầu.

          Em đi đâu về đâu
          Anh cùng chung nhịp bước,
          Bao ngày ta xa mặt
          Nhưng không dễ cách lòng…

          Thế nhưng rồi bỗng dưng
          Em say cơn gió mới
          Bao sướng vui buồn tủi
         Với anh vội quên rồi?!...