Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐỜI

CHƯƠNG I
            Đêm. Những ngọn đèn trên sân ga vàng úa. Từ xa trông lại những bóng người đi lại hối hả, cử động cứ như là con rối. Cái nóng hầm hập trong toa tàu hàng hư hỏng, rỉ sét cuối đường ray cụt là không gian trú ngụ của bọn chúng. Thỉnh thoảng những cơn gió quét qua nóng rát. Có lẽ đã mười giờ đêm. Nhanh lắm thì mười hai giờ chuyến tàu chợ từ Huế mới ra tới. Bọn chúng căn cứ vào bảng ghi giờ tàu rồi cá độ tàu chậm mấy tiếng. Nếu hôm nay tàu chậm bốn tiếng trở lên là nó thắng độ, tức là được ngủ thỏa thích, được ăn những gì người ta bán trên bờ ke. Còn thua thì phải kiếm thêm cái túi xách của khách đi tàu chung độ. Tuần trước, thua độ, chung cho Sửu Lé một túi du lịch căng phồng, khi mở ra cả bọn không nhịn được cười, toàn tã em bé. Cái gói giấy báo, “niềm hy vọng cuối cùng” nằn dưới đáy túi xách, tưởng chừng là cái quần tây hay cái áo sơ mi nhưng mùi phân, mùi nước tiểu bay ra nhanh hơn bàn tay Sửu Lé mở. Chỉ mình Sửu Lé không cười, nhổ toẹt bãi nước miếng, vứt gói giấy báo và túi xách ra cửa, chửi: “Đ…mẹ, đen hơn chó mực!”. Rồi hắn quay sang Danh Điếc: “Mẹ kiếp! Mày cho tao mượn năm đồng chơi đĩ xả xui”. Danh Điếc giả bộ không nghe, hỏi lại: “Hôm nay mày kiếm được năm đồng hả?” “Con mẹ mày, cho tao mượn năm đồng” Sửu Lé hét. Đang nằm trên võng, ngồi dậy, đạp chân xuống sàn toa xe cái “rầm”, đại ca chửi: “Chơi đĩ mà phải trả tiền, ngu như chó!”. Cả đám im lặng. Đại ca bảo: “Sửu Lé xuống nhặt cái túi xách lên”. Chúng không biết đại ca muốn dùng cái túi để làm gì nhưng không đứa nào dám hỏi lại.
            Có lẽ đã nửa đêm nhưng cái nóng không giảm đi được bao nhiêu. Thằng Toàn bước ra khỏi toa xe, leo lên đống tà vẹt nằm đếm sao. Mùi khét hắc của tà vẹt khó chịu nhưng bù lại mát hơn. Đại ca bảo nó cứ tưởng tượng nằm trên cái chõng tre dưới giàn mướp cạnh bờ ao đi. Nghĩ sướng là sướng, kêu khổ là nó khổ. “Đứa nào thấy khổ cứ về đi đóng gạch, tao không cản’. Thế nhưng có đứa nào bỏ đi đâu. Nghĩ tới việc đóng gạch nó ớn tới tận cổ. Có hôm ra gạch giữa trưa, nó đứng trong lò chuyền, bụi, nóng làm nó thở không nổi. Lão Hưng Phệ, chủ lò luôn mồm chửi. Đầu nó ong ong rồi mắt hoa lên, ngã xuống. Hơn chục viên gạch rơi vào chân. Nó chỉ nhớ có thế. Mở mắt ra thì nó thấy đang nằm một góc trại, bên cạnh có cái ca tróc men chỉ còn mấy chữ “Việt Triều hữ….ị” đựng đầy nước. Nuốt chưa trôi ngụm nước, lão Hưng Phệ đã đứng trước mặt: “Giả vờ hả mày?” rồi đá văng cái ca. Cổ tay nó đau nhói, sưng lên nhưng nó không dám kêu. Chị Phượng chạy lại, đỡ nó ngồi tựa vào chồng gạch mộc, nhìn thẳng vào mặt lão Hưng Phệ, giọng sắc lạnh:
            - Ông ác vừa vừa chứ!
Vỗ vai Phượng, lão Hưng Phệ cợt nhả:
            - Động lòng hả, con con đĩ làm việc như đĩ.
Phượng rùn vai, bàn tay lão Hưng Phệ rớt xuống nhưng mấy đầu ngón tay của lão cũng chạm được vào ngực Phượng. Chị ném cái nhìn uất ức, căm phẫn vào bộ mặt đểu giả của lão rồi tiếp tục quay lại chuyền gạch. Toàn cắn chặt môi, nó không khóc nhưng nước mắt cứ ứa ra. Nó đau tay thì ít đau trong lòng thì nhiều. Câu nói của lão Hưng Phệ như móng vốt quái ác cào xước lại vết thương mới chớm đông máu. Nó hận mẹ nó, hận lão phó Chủ tịch xã rồi hận chính bản thân nó. Chỉ vì xóa cái bảng tin chữ xấu như ma lem của tay Tịch, con ông Bí thư, tính viết lại thì lão phó Chủ tịch xã bắt gặp, giải thích thế nào lão cũng không nghe. Nó bị quy là phần tử chống đối. Mẹ nó bị kêu lên xã mấy lần, rồi tối tối lão phó Chủ tịch xã đến nhà quản giáo. Cái đêm nó được giao việc thử thách ra trông đầm cá cho hợp tác xã cũng là đêm mẹ nó sa chân. Xỏ xong cái quần, vớ vội cái áo lính cũ, lão bước ra cửa, để lại một lời đe:
            - Câm mồm! Coi như tao xóa tội cho mày.
Mẹ nó khóc rưng rức. Nó không nói. Thế nhưng không hiểu tại sao chuyện mẹ nó quan hệ với lão phó Chủ tịch cả làng đều biết. Một buổi chiều mưa, ông bác nó tới nhà, nói với mẹ nó:
            - Thằng Triệu không biết còn sống hay chết. Nhưng sống hay chết cô cũng không xứng đáng là vợ nó. Cái nhà này giờ tôi giữ cho thằng Toàn. Nó chưa đủ lớn khôn nhưng cũng không còn nhỏ dại. Nó đến ở với tôi, thi thoảng chạy đi chạy lại…
            Ông bác về, mẹ nó thắp một nén hương, cắm lên bàn thờ, quì trên bộ phản, chắp tay vừa lạy vừa khấn trong nước mắt:
            - Con có tội với tổ tông, dòng họ nhà ta. Con không xứng đáng là con dâu trong nhà. Nếu có kiếp sau con xin làm trâu làm ngựa báo đáp. Cầu mong ông bà khôn thiêng phù hộ cho cháu Toàn khỏe mạnh, sớm gặp được bố nó…con xin …tạ tội…
Thằng Toàn lao đến, ôm lấy mẹ, hét lớn:
            - Mẹ không được đi! Không được đi!
Gỡ tay nó ra, chùi nước mắt, nhìn vào mặt nó, mẹ nghèn nghẹn:
            - Mẹ không ở được con à, mẹ không còn mặt mũi nào nhìn bà con chòm xóm. Mẹ phải đi. Cho dù đi đâu lòng mẹ vẫn hướng về con. Con để cho mẹ đi thì mẹ sống, còn ở lại mẹ phải chết…
            Nó lờ mờ nhớ lại, thời gian gần đây, gặp người trong xóm mẹ nó vẫn chào hỏi như mọi khi nhưng không một ai đáp lại. Có người nhổ một bãi nước bọt trước mặt rồi ngoảnh mặt đi. Ruột gan nó rối bời, đau như cắt. Người ta ác quá. Cho nó khi thì nắm trái sim, khi thì quả chuối hay xoa đầu nó làm gì để rồi bắt nó phải xa mẹ, người yêu thương nó nhất. Nó nhớ bàn tay mẹ gội đầu, tắm táp cho nó, hát ru cho nó nghe khi nó đã học tới lớp ba…Những đêm hè mẹ mắc võng dưới giàn mướp cho nó nằm, mẹ ngồi trên cái chõng tre đưa võng, kể chuyện bố cho nó nghe. Rồi mẹ chỉ cho nó đâu là sao thần nông, sao con vịt. Mỗi khi có vệt sao băng mẹ nó lại thở dài. Có đêm, thức giấc nó thấy mẹ nó khóc rồi chạy ra giếng dội nước ào ào. Hỏi mẹ sao lại vậy, mẹ cười buồn bảo “đó là bệnh con à”. Nó nói mẹ phải uống thuốc, mẹ lại thở dài bảo khi nào bố về bố sắc thuốc cho mẹ uống…
            Mẹ nó ra đi trong chiều mưa, chỉ dặn nó khi nào học xong cấp ba thì vào Vĩnh Linh tìm mẹ. Nó đứng trước cổng trông theo bóng mẹ nhập nhoạng trong mưa, mờ dần trong bóng tối. Một cơn đau quặn thắt, nó cố nôn mà không nôn được. Bước vào nhà, nằm vật trên phản, nước mưa, nước mắt ướt đầm, căn nhà tối đen, đặc quánh lại, chỉ có những đốm đỏ nén hương như những con mắt vô tình nhìn nó. Một cảm giác xa lạ bao quanh. Nó trân trân nhìn những que hương cháy lụi. Nó muốn gào, muốn thét, muốn giãy dụa nhưng cổ họng nghẹn đắng lại, tay chân không nhắc nổi…
           
            Những ngày sống chung trong nhà ông bác là những ngày làm việc quá sức. Ngủ dậy, thái xong hai thúng chuối, băm nhỏ, trộn cám cho lợn ăn xong thì ra đồng làm cỏ hay nhổ lạc, dỡ khoai, giặm lúa…hết buổi làm, người ta về nó còn phải cắt gánh cỏ cho trâu. Gánh cỏ dù có nặng bao nhiêu, bà vợ ông bác vẫn chửi: “gánh chi mà có túm cỏ lơ phơ như lông l…con đĩ”. Câm lặng, nép hai đầu gánh vào gốc cây mít, rửa mặt qua quýt, bà bác lại cạnh khóe: “Rửa chi cho lắm, cạn giếng cũng không sạch mô”. Đến bữa, nhai lưng bát cơm hấp khoai khô với quả cà muối mặn muốn điếc tai, bà bác lại chì chiết: “giờ mất mặt nơi mô còn cái nhà này hưởng tiếng thối”. Múc muôi canh vào bát nuốt cho trôi cơn nghẹn, con Lài nói: “canh là để chan với cơm, ở đây không có cái lối ăn vã đâu”. Buông đũa đứng dậy, nó ra gốc mít đầu hồi ngồi khóc. Một lát, con Lài bưng mâm ra giếng gọi: “Thằng Toàn mô, rửa bát”.
            Con Lài quay vào, nó không rửa bát như mọi khi mà vào bếp lấy hai cái nồi, đi cổng sau về nhà nó. Nằm trên cái chõng tre mẹ thường hay ngồi đưa võng, nước mắt chảy tràn. Nó nhớ mẹ kể, hồi bố bằng tuổi nó đã phải đi làm thuê kiếm sống. Phải rồi, làm thuê còn có thời gian nghỉ nghơi, đầu óc muốn nghĩ gì thì nghĩ; còn ở nhà ông bác, không nghĩ được gì ngoài gặm nhấm những câu chửi trổng, những lời nói xóc. Nó nhớ tiếc những ngày sống cùng mẹ. Ngủ trưa xong mẹ bắt nó mang sách vở ra học. “Bố con không được học nhiều, mẹ cũng vậy. Chỉ có học mới thay đổi được số kiếp con à. Khó mới gọi là học, còn dễ thì ai cũng làm được”. Lúc ấy, nó chỉ đau đầu với những bài toán, để rồi ngày hôm sau, đi học về, bao giờ mẹ cũng hỏi: “Thế nào, bài toán con làm có đúng không?”. Lần đầu tiên, nó được điểm mười kiểm tra học kỳ môn toán, về nhà, căn lúc mẹ đang thổi lửa, từ phía sau nó bịt mắt mẹ, mẹ bảo đừng đùa để mẹ nấu cơm, nó buông tay, rút bài kiểm tra hoa hoa trước mặt mẹ. Mẹ ôm nó vào lòng, đét một cái vào mông, khen: “Con giỏi quá” mà hai dòng nước mắt lăn xuống đôi má hồng. Mẹ đẹp thiệt, người ta nói giờ nó mới thấy đúng như vậy. Mẹ chạy ra đầu xóm, vào hàng nước bà Suất mua về cho nó miếng kẹo lạc. Chưa bao giờ nó thấy mẹ vui như vậy…
            Nghĩ tới đó, nỗi nhớ mẹ càng quay quắt. Rồi nó nghĩ sao ông bác không cho nó đi theo mẹ? sao mẹ không trở về dẫn nó trốn đi? Sao nó cứ phải ở trong nhà ông bác với bao nhiêu tủi nhục, dù có cố gắng đến mấy mà bác gái vẫn không vừa lòng? Hay là nó phải giống bố nó? Mẹ từng giải thích cho nó nghe câu tục ngữ “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh” đó sao? Có nghĩa là ở cái tuổi này, bố nó phải đi làm thuê, giờ nó cũng như thế…
            Thế rồi mặc ông bác can gián, nó quyết đi làm thuê, đóng gạch cho lão Hưng Phệ. Tháng đầu, đóng được ngàn tám viên gạch, lão Hưng Phệ trả công cho nó chín trăm viên. Lão bảo gạch nó đóng kém chất lượng nên nung vỡ nhiều. Chị Phượng cãi, lão Hưng Phệ cười nhăn nhở: “Anh có tính thiếu em đồng tiền công nào đâu. Sau này, nó muốn tính đủ thì phải dỡ lò”.
            Tháng sau, giữa trưa nắng, lần đầu tiên đứng dỡ lò, nó bị xỉu. Tỉnh dậy bị lão Hưng Phệ đá bong gân tay, chị Phượng bó lá thuốc nam cho nó cả tuần mới khỏi. Trở lại lò gạch, lão Hưng Phệ nói:
            - Lý lịch mày không đáng được làm ở đây!
            Nó không đáp trả, thất thểu đi ra. Chị Phượng chạy theo hỏi: “Em tính đi đâu?”. Nó trả lời: “Có lẽ em đi tìm mẹ”. Chị Phượng móc túi đưa cho nó năm ngàn đồng, dặn dò: “Vô trong đó em cứ đến Ủy ban nhờ họ hỏi giúp”. Rồi chị quay đi, giấu dòng nước mắt, nói với nó: “Cố lên, em là chàng trai rồi đấy”…
            Tiếng còi tàu cắt ngang hồi tưởng của nó. Danh Điếc cầm chân nó lôi:
            - Đi mày.
Nó nhảy xuống. Đại ca gọi:
            - Mày cầm cái túi du lịch.
Xách cái túi nhưng chưa biết để làm gì, nó muốn hỏi nhưng lại thôi. Gia nhập băng “cầm hộ”, điều đầu tiên nó được học là nhìn ám hiệu mà hành động chứ không được hỏi. Một cái búng tay, một ánh mắt hay gật, lắc đầu đều là hiệu lệnh.
            Đoàn tàu chưa dừng hẳn mà đám cửu vạn trên bờ ke đã inh ỏi xí phần:
            - Tao toa số năm, số sáu!
            - Con mẹ mày, hôm nay mày toa một nghe chưa.
            - Chia toa cái con c..c, khứa gọi đứa nào đứa ấy chở.
Tiếng rao hàng vặt, tiếng trả treo níu kéo buôn bán hàng rong, tiếng chân chạy ngược chạy tìm toa xe của khách đi tàu, chen nhau xuống của khách đến; hàng hóa, hành lí lên xuống theo đường cửa sổ, tranh giành chỗ để trên ba ga, dưới gầm ngồi…rồi tiếng trẻ con khóc hòa thành bản nhạc tạp pí lù inh tai nhức óc, náo loạn, xô bồ. Âm thanh ấy chỉ lắng đi khi con tàu rời ga, và cảnh tượng ấy đêm nào cũng vậy.
            Danh Điếc “tia’ đối tượng. Vào nghề chưa lâu nhưng nó khá sành sỏi. Cứ mười túi xách, ba lô lấy được thì sáu cái có giá trị. Nó búng tay. Thằng Toàn đặt cái túi xách bên cạnh cái túi xách vừa được chuyển trên tàu xuống, người đàn ông còn đang tiếp một cái túi khác. Sửu Lé xách cái túi du lịch bên cạnh, lẩn ngay vào đám đông. Lại một cái vẫy tay, xong việc. Thằng Toàn bám theo Danh Điếc đi xuống phía cuối đường tàu. Danh Điếc dừng lại, đưa tay lên gáy gãi gãi. Thằng Toàn nhìn trước nhìn sau, không ai để ý, nó chui xuống gầm tàu bò lom khom song song với bước chân Danh Điếc. “Bịch”, một bao tải lăn xuống, nó chộp lấy, kéo ngược một đoạn rồi chui lên bờ ke bên kia, ung dung vác đi. Cái bao không nặng lắm, có lẽ là thuốc lá, nó nghĩ thế.
            Vác cái bao tải vào cửa sau quán nước Tú Chột, lão hất hàm chỉ chỗ để, nói:
            - Đại ca mày dặn ở đây uống nước, chờ một chút.
Nước chè xanh của lão Tú Chột ngon có tiếng, chát ngọt nơi cổ họng, đượm mùi chè. Những người công nhân kiểm tu trước hay sau ca đều tụ tập ở đây uống nước, vì thế đám dân sống bám vào ga gọi là quán Kiểm tu. Gọi thế để tránh “phạm húy”. Động chạm tới lão, dù công chức hay móc túi, coi như hết đường làm ăn.
            Thằng Toàn ngồi uống nước. Hình như sân ga nhốn nháo hơn. Trong bản tổng ca hợp âm ấy có thêm tiếng chửi, tiếng kêu trời, tiếng khóc của người bị mất cắp. Bỗng dưng trong lòng nó thấy bần thần. Lão Tú Chột thối tiền nước cho khách rồi quay sang hỏi:
            - Mày đọc Tây Du ký chưa?
            - Dạ, chưa. Mới nghe kể.
            - Thầy trò Đường Tăng còn phải trải qua tám mốt nạn huống chi người phàm. Bỏ ngoài tai tất cả đi, muốn ngủ thì nằm xuống gường tao mà ngủ, có cái quạt mo dưới chiếu ấy.
            Sửu Lé, Danh Điếc tới. Chúng tự múc nước uống. Lão Tú Chột hỏi:
            - Có làm chuyến nữa không?
Sửu Lé đáp:
            - Chờ đại ca, bây giờ bọn cá * đang bơi xuôi ngược bờ ke khá đông.
            - Bạ đâu làm đó thì gì mà cá không bơi. Với lại dân tàu chợ là dân khổ. “Cầm hộ” dân tàu nhanh đỡ thất đức hơn.
            - Biết vậy nhưng bọn Hùng Lợn không cho.
            - Được rồi, để tao nói với chúng xem sao.
Danh Điếc nghĩ nếu lão Tú Chột sắp đặt thì chắc chắn rồi. Mối** tàu nhanh thì khá thật nhưng cầm hộ cũng khó hơn, an ninh nghiêm ngặt hơn. Nhưng làm được chắc chắn có số má. Lúc ấy bọn Hùng Lợn có muốn cũng không ăn chặn được nữa. Cứ nghĩ đến Hùng Lợn là nó muốn lụi một dao, đến đâu thì đến. Cùng lắm là bị chém lại, tệ hơn là bóc lịch. Nhưng thà như thế còn hơn là bị đè đầu cưỡi cổ…nếu đại ca không cấm thì nó làm rồi.
            Đại ca của nó đi sau ba thằng công nhân kiểm tu đang vác trên vai ba cái bao tải vào cửa ngách. Vậy là tàu sắp chạy.
            - Mỗi bao kiếm được bao nhiêu, Sàng?
            - Năm đồng chứ mấy.
            - Hàng của ai?
Thằng Sằng chưa kịp trả lời thì một giọng nói ẻo uột, the thé vang lên:
            - Của em đấy, ông anh.
Lão Tú Chột quay lại, thì ra hàng của mụ Bé Tư. Lão nhìn mụ Bé Tư như ước lượng cân nặng bao nhiêu, nói chầm chậm:
            - Mỗi bao qua cửa này năm đồng.
            - Trời ơi, cắt cổ hả ông anh!
Không trả lời mụ, lão Tú Chột nói với mấy đứa kiểm tu:
            - Chúng mày quay lại.
Đặt ba bao tải chụm vào nhau, thằng Sằng nói với mụ Bé Tư:
            - Cho tụi tui xin tiền công.
Sợ dây dưa trong sân ga không có lợi, mụ Bé Tư đành mở túi xách đưa cho lão Tú Chột mười lăm đồng rồi bảo bọn thằng Sằng vác ra ga. Mụ lầu bầu:
            - Biết thế đi cổng chính cho xong.
            - Có ai cấm mụ đâu, chi gấp bốn lần cửa này nếu qua lọt tao gọi bằng mẹ.
Đám thằng Sằng và mụ Bé Tư đi qua, đại ca nói:
            - Chi gấp bốn thì qua được cửa ga nhưng không qua được cửa thuế vụ.
            - Mày tưởng bọn thuế vụ ngu chắc, đi cửa này mụ Bé Tư cũng phải chung cho chúng nhưng lợi hơn rất nhiều.
Châm điếu thuốc, đại ca nói với thằng Toàn:
            - Giờ đi với tao, tập nhảy tàu.
Lão Tú Chột cầm cái quạt mo phe phẩy nói:
            - Mày đừng huấn luyện nó được không? Tao xem tướng tá nó không hợp với nghề này.
            - Chẳng lẽ phải thờ nó?  Tôi có cấm nó về quê đóng gạch đâu.
            - Đóng gạch cũng không hợp với nó. Tạm thời thế đã.
Đại ca không nói, phẩy tay. Sửu Lé, Danh Điếc đi theo. Lão Tú Chột đưa cho nó cái bánh mì, nói:
            - Mày đi phụ đẩy xe đi. Tối mai lại đây.

            Trước sân ga, chiếc ba gác của cha con ông Đức đã chất đầy hàng. Con Liên cười, nói với nó thay lời chào:
            - Toàn không phụ thì cha con tôi không dám đi lối tắt đâu.
Con đường kéo xe băng qua mấy đám ruộng, ngõ xóm giáp ranh phố xá. Không còn những âm thanh, cảnh tượng nhốn nháo và cái nóng hầm hập nữa. Lòng nó nhẹ nhàng, thư thái. Phụ đẩy xe với cha con ông Đức nó thấy ấm áp, bình yên. Thoang thoảng mùi hương đồng, hương tóc. Thỉnh thoảng chiếc kẹp trên mái tóc Liên lấp lánh dưới ánh sao. Nó ước được sống như lúc này đây, mãi mãi…
-------------------------
 * công an
** hành lí

Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

HỌC ĐÒI BÚT TRE VỀ THI TN THPT NĂM NAY

                Hội đồng thi trường cấp Tiêu (tiểu)
          Học Xuân Giang một rất nhiều cô tre (trẻ)

               Phổ thông thi với Thường xuyên (GDTX)
          Hai môn một buổi nên điên cái đầu
               Trời nóng như lửa thêm dầu
          Bực mình như tức thằng Tàu cướp biên (biển)

               Có cô giám thị Hội đồng
          Cầm dùi đánh trống mà không ra hồn
               Chủ tịch chửi: đánh như ..."ồn"
          Thư ký chữa lại: đánh dồn mới đung (đúng)

               Thí sinh đi trễ quá nhiều
          Phiếu ghi thời dạn (gian) rất nhiều chỗ sai
               Phiếu in cái dở (giờ) làm bài
          Mà không in dở (giờ) đứng ngoài cửa phong* (phòng)

               Lạ cho thi cử năm nay
          Hai môn mà lại nhét ngay một buồi (buổi)
----------------------------------
      * Học sinh tập trung trước phòng thi trình thẻ dự thi cho GT trước giờ thi.

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

MỘT BỮA NHẬU



            Nghe tiếng chặt cây ngoài vườn, anh Tấn quát:
            - Mày làm gì ngoài ấy thế?
Thằng Hùng đáp vọng vào:
            - Dạ, con chặt nhánh ổi làm nạng ná.
Anh Tấn nói với tôi:
            - Từ khi ông Dư về mấy đứa trẻ con thay đổi hẳn.
Tôi tò mò:
            - Có phải cái ông có biệt danh là “cùi” không?
            - Bây giờ không ai gọi ông ấy bằng biệt danh ấy nữa, biệt danh mới của ông ấy là “biết”.
Anh giải thích:
            - Ông Dư ngang tàng, lập dị. Nhưng ngẫm ra ông luôn đúng. Hôm giỗ họ, ông tháo bức thư pháp chữ “Tâm” trên vách nhà thờ, thay vào bức họa thư pháp chữ “Biết” rất đẹp. Ông nói thuê một họa sĩ có tiếng mãi ngoài Hà Nội vẽ. Mấy ông trưởng chi tỏ vẻ bất bình, ông nói: “Chữ nghĩa tôn chỉ cho cả họ là phải theo thời đại; Bác Hồ dạy: “Có Đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”, hơn nữa, chữ “Biết” là chữ của Trạng Trình: “Khôn chết, dại chết, biết thì sống”. Các ông nghĩ xem, biết đối nhân xử thế thì được người ta nể trọng, biết làm ăn thì giàu có, biết học hỏi thì thành đạt. Có khi biết trước nhưng không tránh được thì đó là số phận, như vậy người ta bình tĩnh để đón nhận, an nhiên tự tại để rồi lại tự vươn lên…Chỉ có mấy câu nói mà ông Dư thuyết phục tất cả.
            Thằng Hùng vào nhà, mồ hôi dán bết tóc vào trán che đi cái xoáy bò liếm. Nó khoe:
            - Bố với chú Thắng thấy đẹp không?
Anh Tấn hỏi:
            - Có hai cái ná rồi tính làm nữa sao?
Thằng cháu ra vẻ quan trọng:
            - Phải có cái dự phòng chứ bố. Ông cố bảo làm cái gì cũng phải dự phòng.
Tôi nói với cháu:
            - Chơi ná cao su không tốt đâu cháu ạ, mỗi đứa ba cái ná thì chim chóc đâu còn. Cháu thử nghĩ xem không có tiếng chim hót thì buồn biết bao.
            - Bọn cháu không bắn chim đâu chú ạ.
            - Không bắn chim thì các cháu bắn gì?
            - Bắn bọn Tàu chú ạ.
Như biết tôi không hiểu, thằng Hùng giải thích:
            - Hồi xưa ông cố Dư cũng dùng ná cao su đánh Mĩ đấy. Bắn lựu đạn chú ạ. Ông cố bảo bọn Tàu ở ngoài biển, giờ ông già rồi, nhà nước không cần ông nữa, bọn Tàu mà vào đất liền thế nào ông cũng chỉ huy một đội quân đánh chúng. Nhiều đứa muốn xin vào đội quân của ông nhưng không dễ vào. Phải kiểm tra, bầu chọn chú ạ. Chú chơi với bố cháu, cháu đến nhà ông cố Dư đây ạ.
Châm thêm nước cho tôi, anh Tấn cười:
            - Không biết có bùa ngãi, chiêu trò gì, bọn thanh thiếu nhi làng này mê ông Dư như điếu đổ. Ông nói gì chúng cũng nghe, sai gì chúng cũng làm. Cái “đội quân” của ông như thằng Hùng nói, đứa nào cũng phải học khá trở lên, điều kiện thứ hai là bắn ná giỏi hay biết chơi bóng đá, bơi lội. Bây giờ đứa trẻ nào bảo đến nhà ông Dư Biết là bố mẹ yên tâm.
            Tính tôi tò mò, cái gì cũng muốn biết tận gốc ngọn. Anh Tấn hiểu ý, cười:
            - Cứ uống nước đi rồi phụ anh làm mồi nhậu. Chút nữa giỏi thì chú khai thác ông Dư.
            Có tiếng xe máy ngoài cổng. Ngó ra, là Tuấn – chủ tịch xã, học trò cũ của tôi và cô Duyên, bí thư huyện Đoàn. Tuấn chào tôi, giới thiệu thì Duyên đã nhanh nhẩu:
            - Em biết rồi. Em chào thầy ạ! Em học cùng khóa với con trai thầy, cùng làm công tác Đoàn nên em biết nhiều về thầy, anh ạ.
Tôi chào đáp lễ, bắt tay hai người. Mang thùng bia và túi ốc vào nhà, Tuấn nói với tôi:
            - Nghe chú Tấn bảo chiều nay thầy xuống nên bọn em tranh thủ xong việc sớm. Cô Duyên cũng mong gặp ông Dư, thế là bọn em kết hợp “hai trong một”.
            Tuấn xuống bếp phụ anh Tấn làm mồi nhậu. Duyên nói với tôi:
            - Chỉ cần mỗi xã có một người như ông Dư Biết thì kinh tế, an ninh xã hội huyện ta tốt lên ngay thầy ạ. Ông Dư vừa có tài lại vừa có tâm, xứng với cái danh “Dư Biết”.
Giọng nói của Duyên lộ rõ sự khâm phục, thấy tôi chăm chú nghe, cô kể:
            - Có lẽ em sẽ khai thác ông Dư, viết báo cáo kinh nghiệm “Giáo dục thanh thiếu niên bằng dịch chuyển nhận thức, hành động” để phổ biến cho toàn huyện. Cách làm của ông hay và phù hợp lắm.
            Tôi nghĩ, trước khi gặp “nhân vật chính” cũng cần khai thác qua một “nhân vật khác”, vậy nên tôi chọc:
            - Thế lâu nay nhận thức, hành động của thanh thiếu niên không đúng sao mà phải “dịch chuyển”?
            - Dạ, không. Dịch chuyển ở đây là dịch chuyển nhận thức, hành động lệch chuẩn sang chuẩn thầy ạ.
Tôi cười, châm thêm nước cho Duyên. Cô đỡ lấy bình trà, nói” “Thầy để em”. Chờ Duyên rót xong, tôi hỏi:
            - Cô có thể nói cụ thể được không?
            - Dạ đươc, nhiều chuyện hay lắm thầy ạ.
            Thế rồi Duyên kể, hồi ông mới về làng, bọn thanh niên tối tối đua xe, nẹt pô, đánh võng làm bà con sợ chết khiếp. Ông Dư ra xem, bảo với chúng nó đua như thế y chang gà công nghiệp, còn lâu mới thành “đại bàng”. Nghe giọng nói của ông già Nam bộ, bọn chúng ngạc nhiên, chửi: “Ông biết chó gì”. Ông cười bảo chúng chọn đứa nào giỏi nhất đua với ông. Điều kiện là ông thua, ông làm bất cứ việc gì chúng muốn và ngược lại. Thấy ông già có vẻ “lựu đạn”, thằng Cang đại diện cho cả nhóm nhận lời thách đấu. Ông bảo hai người hai xe còn có sự ăn may xe tốt xe xấu, chỉ đua một xe, đua bằng kỹ thuật thôi, có nghĩa là ông làm động tác gì thì thằng Cang phải thực hiện động tác đó. Ngồi lên xe của thằng Cang, có đứa chọc: “Coi rụng răng ông già, xe xoáy nòng đó”. Rịn ga vài cái, xe chạy được vài mét, ông bốc đầu xe, chạy dăm bảy mét rồi ông quay lại mà bánh xe trước vẫn còn ở trên không. Liếc một vòng số tám rồi hạ bánh xe xuống, ngừng lại. Cả bọn há hốc mồm, chúng mắt thấy tai nghe chứ không phải xem phim hành động. Đứa này xuýt xoa tài thật, đứa khác trầm trồ tuyệt ghê. Không biết đứa nào gọi ông là “sư tổ”, cả bọn gọi theo…Chúng hỏi ông muốn chúng làm việc gì, ông chỉ bảo: “Các cháu đừng đua xe nữa. Còn muốn chạy như ông, đến nhà ông dạy cho”. Thế rồi ông dạy đua xe thì ít, dạy sửa chữa, tân trang xe thì nhiều. Tiệm sửa xe Honda Cang Cường đầu ngã ba là của hai đứa từng tham gia nhóm đua xe thầy ạ.
            Chuyện cô Duyên kể khá thú vị. Tôi nghĩ đúng là ông già lựu đạn, đua như vậy lỡ té thì làm trò cười cho thiên hạ, nguy hiểm đến tính mạng, có cần phải làm như thế không? Nghe chuyện của ông cứ như giang hồ thứ thiệt…
            - Lại còn chuyện vận động học sinh bỏ học quay lại trường mới “độc” thầy ạ. Ông Dư kêu mấy đứa bỏ học đến nhà nấu chè cho ăn. Ông nói với chúng ở nhà chán chết, phải đi học để quậy mới vui. Mấy đứa trẻ tròn mắt, không ngờ chúng lại có “đồng minh”. Hỏi chúng từng quậy như thế nào, thế là hết đứa này đến đứa khác thay nhau kể. Nghe xong, ông nói quậy như vậy quá tầm thường, không xứng đáng anh hùng hảo hán, cách quậy đó xưa rồi. Ông hỏi chúng nó có dám quậy như ông chỉ vẽ không, đứa nào cũng hô “dám”. Vậy là kế hoach quậy được đưa ra. Ông Dư Biết nói: “Phải quậy làm sao cho thầy cô giáo sợ. Đứa nào làm được chuyện đó sẽ có thưởng. Vì sao lại gọi là thầy giáo? Vì là người có tri thức. Vậy phải dùng kiến thức quậy mới đã”. Nghe vậy, chúng nhìn nhau ỉu xìu. Ông Dư bảo cứ đưa sách vở đến ông sẽ chỉ. Ông hướng dẫn, kèm cặp chúng, đơn giản hóa các thuật ngữ trừu tượng, bài tập được nâng dần từ dễ đến khó. Có đứa hỏi ông không hiểu sao dễ như thế mà ở trường không làm được. Ông cười, ra một bài tập khó cho chúng giải. Mãi rồi chúng cũng giải được, ông nói: “Mai các cháu đến lớp, im lặng học tập chăm chỉ, khi thầy giáo hỏi: “em nào có ý kiến thắc mắc gì” thì đưa bài tập này nhờ thầy giải. Nếu thầy giáo giải được ông sẽ cho bài khác, đến khi nào thầy không giải được là chúng ta thắng”. Thế rồi từng buổi, từng buổi học chúng lại đến “báo cáo” kết quả cho ông. Một thời gian sau chúng khá hẳn lên, không đứa nào có ý nghĩ bỏ học nữa, ông Dư Biết đãi chúng một chầu kem, bảo: “Ông thua thầy các cháu rồi”.
            Tôi bật cười, Duyên cười theo. Tuấn xách phích nước lên hỏi chúng tôi cười gì nghe vui vẻ thế. “Vẫn chuyện ông Dư Biết, anh à”, Duyên đáp. Pha bình trà mới, Tuấn góp chuyện:
            - Có những việc nhiều khi bọn em nghĩ không ra nhưng với ông Dư Biết lại thật là đơn giản thầy ạ. Kinh phí địa phương eo hẹp, làm chuyện này thì mất chuyện kia, mảng  văn hóa xã hội tiêu tiền ai cũng thấy nhưng mấy ai nhìn ra được hiệu quả của nó. Xây dựng  xã văn hóa mà yếu kém về văn hóa thể thao ai người ta công nhận. Sau một cuộc họp dân chính, ông Dư nói với em sẽ tài trợ cho giải cờ tướng của xã và sẽ duy trì giải này lâu dài. Thế là ông mua cho mỗi thôn hai bộ cờ tướng thật đẹp, cùng với trưởng thôn giao cho nhà ông A, ông B thường hay có người đến chơi cờ, hẹn sau một tháng, thôn  cử hai  đại diện lên xã đấu vòng chung kết. Bốn người vào bán kết được thưởng tiền, giải nhì có cờ, giải nhất có cờ và cúp luân lưu. Ai vô địch ba năm liền mới được giữ cúp vĩnh viễn. Sau giải đấu rất thành công đó, ông Dư xin thành lập câu lạc bộ, kết nạp hội viên, đóng góp hội phí để nuôi phong trào. Thành ra, ông Dư Biết tài trợ năm triệu đồng mà có giải đấu hoành tráng, quan trọng hơn là phát triển được phong trào. Từ mô hình ấy xã em đã có thêm câu lạc bộ bóng chuyền, cầu lông, sắp tới là bóng đá. Nhiều lúc xã muốn vận động nhân dân về một vấn đề gì đó, thông qua các câu lạc bộ vừa nhanh lại vừa có hiệu quả. Tuyên dương ông những việc làm được cho xã, ông nói: “Có đáng gì để tuyên dương, cái chính là xã chưa phát huy triệt để chủ trương “nhà nước và nhân dân cùng làm” nên chưa có phong trào mà thôi. Tiền đâu mà năm nào cũng bỏ ra, cái chính là cần một “cú hích”. Biết tiêu tiền quan trọng hơn làm ra tiền các anh à.
            Vừa lúc ấy thằng Hùng chạy về, liến thoắng:
            - Cháu chào chú Tuấn, cô Duyên. Bố ơi cố Dư đến rồi.
            Tôi không ngờ ông Dư Biết còn trẻ thế. Sáu mươi lăm tuổi rồi mà trông cứ như năm mươi. Tóc mới điểm bạc, da dẻ hồng hào, bước đi nhẹ nhàng, nhanh nhẹn. Tôi vừa đứng lên ông đã cất tiếng:
            - Chào chú, chào cô. Tôi xin lỗi vì đến trễ.
            Bàn tay ông nắm tay tôi thật chặt, ấm áp, tràn đầy sinh lực.
           
            Suốt bữa nhậu, tưởng rằng “khai thác” được ông nhưng ngược lại. Ông hỏi tôi về công tác, gia đình; hỏi cô Duyên về những dự định, mô hình thanh niên làm giàu, trao đổi với Tuấn việc xây dựng tủ sách kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt ngay từng thôn. Bia, ông uống từng hớp nhỏ, thỉnh thoảng nhấm nháp chút mồi cho khỏi người ta mời mọc. Một phong cách đĩnh đạc, tự nhiên của bản lĩnh lớn. Hỏi ông về cuộc đời lưu lạc, hoạt động cách mạng, ông cười, nói những điều chúng tôi đã biết: “Cha tôi là hội viên Hội thanh niên Phan Anh rồi trở thành cán bộ cách mạng. Tôi sinh ra ở Huế,  sau đó vào Sài Gòn tham gia cách mạng khi đang học năm nhất Đại học Khoa học. Bị đuổi học, tôi vẫn tiếp tục hoạt động vùng Chợ Lớn. Sài Gòn giải phóng, tôi về công tác ở Quân rồi Thành ủy. Về hưu, tìm về quê cha đất tổ, thế thôi, có gì đáng nói đâu”.
            Cụng li bia với ông Dư, Tuấn nói:
            - Lý lịch của ông cho cháu nhiều thông tin hơn. Nhưng mà có một thời ông là đại ca giang hồ Chợ Lớn có đúng không?
Nhấp ngụm bia, để li xuống chiếu, ông nói:
            - Cháu phải gọi là bác mới đúng vai vế, hôm nào bác giải thích cho nghe. Do quan hệ cả hai phía nội ngoại, nên thằng Tấn gọi cháu bằng anh mới đúng.
Duyên hỏi, có vẻ ngạc nhiên:
            - Ông Dư có biệt hiệu là “biết” không sai. Anh Tuấn, chú Tấn bà con mà không rõ thứ bậc. Sao ông Dư rành rẽ thế?
            - Vai trò tộc trưởng phải thế cô à. Phải cả tháng bác mới làm xong cái cây phả hệ, vất vả hơn cô viết báo cáo tổng kết nhiều.
Ông Dư khéo léo chuyển đề tài, tôi tiếp tục:
            - Còn việc làm đại ca Chợ Lớn ra sao, ông Dư?
            - Tôi có hoạt động ở Chợ Lớn thật, thì cũng là công tác dân vận thôi, nói đúng họ nghe, có lợi cho cách mạng chứ đại ca gì đâu thầy.
Rồi ông nói với tôi nhưng đúng hơn bao hàm cho tất cả:
            - Mấy đứa trẻ hỏi tôi về Tổ quốc và Nước có khác nhau không, chúng bảo cô giáo nói Tổ quốc là cách nói trang trọng. Chúng thắc mắc vậy tại sao sách giáo khoa không dùng Tổ quốc mà lại dùng Nước?
 Một câu hỏi hay, một trong chúng tôi chưa ai trả lời, ông Dư Biết nói chầm chậm:
            - Không biết tôi trả lời có chính xác không, Tổ quốc  là tên gọi thể hiện lòng yêu nước, thành kính, tôn thờ của mỗi người dân nước ấy. Còn Nước là để phân biệt giữa quốc gia này với quốc gia khác, sử dụng trong văn bản hành chính, ngoại giao…
            Ông lại tiếp tục, hỏi rồi tự trả lời như độc thoại nội tâm:
            - Không biết các nước trên thế giới từ Nước có nghĩa đen là nước hay không? Lịch sử dân tộc ta gắn liền với nước ở cả nghĩa đen. Mất Nước, An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc rẽ nước xuống biển, ngọc trai Mị Châu rửa nước giếng Cổ Loa thêm sáng. Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo cắm cọc nhọn dưới nước đánh trận quyết chiến chiến lược đuổi quân Nam Hán, Nguyên Mông ra khỏi giang sơn bờ cõi. Lê Lợi được Long vương cho mượn gươm đánh giặc và trả lại ở hồ Hoàn Kiếm. Hay cổ tích xưa nói chuyện vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh cây đàn đuổi giặc…
            Những điều ông Dư Biết nói mới mẻ, cuốn hút bởi cách nhìn nhận, sắp đặt vấn đề trong một hệ thống mới. Nó thú vị như hằng ngày tôi vẫn leo lên tầng ba dạy học, nhưng một ai đó hỏi tôi phải bước bao nhiêu bậc thang thì đành chịu. Một không gian yên ắng chầm chậm trôi. Rồi cũng chính ông Dư cất tiếng sau quãng lặng suy tư về Đất Nước:
            - Bây giờ đến lượt tôi mời, trăm phần trăm nhé!

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

EM LÀ NÀNG THƠ MÃI MÃI

          Anh muốn biết
          má hồng kia em dành cho ai?
          Một thoáng bóng anh
          trong một giấc mơ dài?
          Có lúc nào cần một bờ vai tựa
          và nhớ nhung ai trong mỗi sớm mai?

          Anh muốn biết
          suối tóc mây em dành cho ai?
          những ngón tay đan
          triền đê cỏ dại
          ánh trăng thượng huyền con thuyền gối bãi
          tiếng gió thì thào ngọt giọng môi xinh...

          Em ơi em
          đẹp quá một dáng hình
          anh mê mẩn
          lưng ong thắt đáy
          câu ca dao xưa ngàn năm vẫn vậy
          ai dìu em trong điệu nhảy cuộc đời?...

          Anh muốn biết
          em ơi
          đừng cho anh biết, 
          bóng hình ai trong đôi mắt em xanh,
          hãy cứ thơ ngây hãy cứ tuyệt trần
          trong trái tim anh
          em là nàng thơ mãi mãi...

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

DIỄN BIẾN TÂM LÍ NHÂN VẬT MỊ TRONG TRÍCH ĐOẠN "VỢ CHỒNG A PHỦ" - VĂN HỌC 12 THPT



            Tiểu thuyết, với dung lượng dài, việc xây dựng nhân vật trong quá trình phát triển của nó không khó, người viết có thể trải ra nhiều chương. Ngược lại, xây dựng nhân vật trong truyện ngắn rất khó, nhất là kiểu nhân vật nội tâm. Chi tiết, câu chữ phải hết sức cẩn trọng, chọn lọc để có sự cân bằng giữa cốt truyện – nhân vật – nhân vật phục vụ cho chủ đề tác phẩm.
            Truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, phần viết về Hồng Ngài, Tô Hoài đã xây dựng nhân vật Mị, kiểu nhân vật nội tâm,  với diễn biến tâm lí hết sức chân thực, tự nhiên, sống động.

            Mở đầu câu chuyện, tác giả cho “một người con gái” xuất hiện trong một liệt kê công việc với tư thế cúi mặt, tâm trạng “buồn rười rượi”. Đó chính là Mị - vợ A Sử, con trai thống lý Pá Tra.
            Làm con dâu một gia đình quyền lực, giàu có nhất vùng tại sao lại buồn? Mị là con dâu gạt nợ, hay nói đúng hơn là nô lệ hợp pháp của nhà thống lý Pá Tra. Mị thay bố trả món nợ truyền đời mà bố mẹ vay để cưới nhau. Mỗi năm phải trả một nương ngô, nhưng bố mẹ Mị, cho dù nghèo đói, vẫn sống được, vẫn có cô con gái xinh đẹp đấy thôi. Có lẽ Pá Tra thấy trả nợ như vậy chưa “thỏa đáng” nên nói với bố Mị:
            - Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho.
            Những người đàn bà trong gia đình thống lý Pá Tra nói riêng, nhà giàu ở Hồng Ngài nói chung “Một đời con người chỉ biết đi theo đuôi ngựa của chồng”. Mỗi năm mỗi mùa công việc cứ lặp đi lặp lại: “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc xay ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc cả đêm lẫn ngày”.
            Vì thế, Mị nói với bố:
            - Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu.
“Bố đừng bán con cho nhà giàu” chứ không phải “gả”. Mị ý thức được dù phải trả nợ nhưng vẫn còn đó một khoảng trời tự do, bị bán vào nhà giàu còn khổ hơn con trâu con ngựa.
            Về làm dâu nhà thống lý một thời gian, Mị đã nghĩ đến cái chết. Nhưng Mị không thể chết vì đang phải gánh món nợ của bố, đành cắn răng chịu đựng. Lần lữa năm tháng trôi qua, bố Mị chết, Mị không tưởng đến cái chết nữa vì “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Cái buồng Mị ở chẳng khác gì một phòng giam “kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng cứ ngồi trong lỗ vuông ấy, đến bao giờ chết thì thôi”.
            Cuộc đời Mị trong nhà thống lý Pá Tra là cuộc đời lao tù, bị bóc lột sức lao động, bị đày đọa tâm hồn, không bạn bè, không người thân thích. Những chị em dâu của Mị cũng trong tình cảnh ấy, thậm chí trông còn thảm thương hơn. Người chị dâu cởi trói cho Mị được tác giả miêu tả: “Người chị dâu ấy chưa già, nhưng cái lưng quanh năm phải đeo thồ nặng quá, đã còng rạp xuống”. Hoàn cảnh ấy, môi trường ấy đã biến một cô gái xinh đẹp “nhiều người mê”, có tài “thổi lá cũng hay như thổi sáo”, tràn trề sức sống thành một con người ngày càng không nói, “lùi lụi như con rùa nuôi trong xó cửa”.
            Mỗi cái tết, như một cánh cửa của thời gian, khép lại một năm cũ và mở ra một hy vọng mới. Cái tết đối với bà con đồng bào miền núi lại càng quan trọng, càng được trông chờ vì quãng thời gian ấy người ta có dịp gặp gỡ nhau, người ta hò hẹn, người ta nghỉ ngơi để chuẩn bị cho mùa làm nương mới. Nhưng đã bao cái tết Mị không buồn đi chơi và cũng không được A Sử cho đi chơi. Dường như tâm hồn Mị đóng khép dần với thời gian.
            Đã bao cái tết Mị lén lấy hũ rượu uống ực từng bát để say, để quên đi nỗi buồn. Nhưng cái tết này, tiếng sáo gọi bạn đi chơi đã gợi cho Mị nhớ về những cái tết chưa là con dâu gạt nợ. Mị ngồi lẩm nhẩm lời bài hát của người nào đó đang thổi:
            Mày có con trai con gái rồi
            Mày đi làm nương
            Ta không có con trai con gái
            Ta đi tìm người yêu.
Không khí tết, hơi rượu nồng nàn và những câu hát đã đánh thức tâm hồn Mị bởi vì “Mị trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ”. Nhưng những câu hát ấy làm cho nỗi buồn của Mị thêm đau: “Huống chi, A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau!” Đỉnh điểm của nỗi đau, nỗi chán chường là không muốn nhớ lại nữa “nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra”. Mị lại nghĩ đến cái chết. Chết để thoát khỏi kiếp nô lệ. Chết để quên đi số kiếp éo le có chồng, bên chồng mà vò võ cô đơn. Thế nhưng, ý nghĩ đó cũng như bóng mây đen thoáng qua. Tiếng sáo gọi bạn yêu lửng lơ ngoài đường phút chốc làm Mị quên đi thân phận. Tâm hồn Mị phơi phới trở lại, Mị muốn đi chơi:
            Anh ném pao, em không bắt
            Em không yêu, quả pao rơi rồi.
            Khát vọng yêu đương lại bùng cháy! A Sử trói Mị nhưng không trói được xúc cảm, tâm hồn: “Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”. “Em không yêu, quả pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào…”
            Cho đến khi “hơi rượu tỏa”, cảm giác đau nhức khắp mình mẩy vì bị trói, đầu không cúi xuống được, lúc đó Mị mới thấy sợ vì chợt nhớ lại câu chuyện người ta thường kể: “đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có một người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến thì vợ chết rồi”.  
            Có lẽ, nếu A Sử không bị A Phủ đánh vì phá đám, thì Mị cũng sẽ chết như người phụ nữ đời trước ở nhà thống lý Pá Tra mà thôi. Mị được cứu sống suy cho cùng là nhờ nắm đấm của A Phủ.
            Cái cách mà A Sử đối xử với Mị bằng việc đạp vào mặt khi Mị đau quá thiếp đi khi đang xoa thuốc dấu cho nó, hay đi chơi về, thấy Mị sưởi lửa, lại đánh Mị ngã lăn ra, thêm một lần nữa, chứng thực suy nghĩ của Mị “không có lòng với nhau” mà vẫn phải ở với nhau là xác đáng.
            Cuộc đời của Mị và cuộc đời A Phủ có nhiều nét tương đồng. Cả hai người đều mồ côi, đều là nô lệ - con nợ của nhà thống lý Pá Tra. Mị bị A Sử trói vào cột nhà, quấn tóc vào cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được thì  A Phủ bị Pá Tra trói vào cột ngoài sân, tròng vào cổ một sợi dây thòng lọng, không nghiêng, không cúi đầu được. Đã mấy đêm A Phủ bị trói, Mị vẫn dửng dưng sưởi lửa, Mị biết A Phủ còn sống vì mắt mở trừng trừng. Con dâu Pá Tra chỉ vì muốn đi chơi mà bị trói thì kẻ nô lệ như A Phủ để cọp ăn thịt bò bị trói có chi lạ. Nhưng đến khi dòng nước mắt của chàng trai tài năng “việc gì cũng làm băng băng” chảy xuống hai hõm má đã xám đen lại, “chỉ đêm mai là chết”, Mị mới thức tỉnh. Lòng trắc ẩn của Mị có sự đối chiếu giữa cuộc đời mình và A Phủ. Mị rút ra kết luận: “Chúng nó thật độc ác”.
            Hành động cắt dây trói cho A Phủ xuất phát từ lòng trắc ẩn. lòng trắc ẩn chỉ có trong tâm hồn của con người biết hi sinh cho người khác (đối với Mị là báo hiếu), khao khát tự do, biết cảm thụ và rung động trước cái đẹp. Cuộc sống đọa đày kiếp con dâu gạt nợ - nô lệ, đã có lúc gần như làm cho Mị đóng khép tâm hồn, vô cảm với cuộc đời. Nhưng khi bắt gặp tiếng tơ lòng nhân loại hay dòng nước mắt đau thương của người khác tâm hồn Mị bừng tỉnh. Sự bừng tỉnh tâm hồn luôn gắn với hành động. Nghe tiếng sáo gọi bạn, tâm hồn Mị đồng điệu, quyết định đi chơi không một chút đắn đo. Thấy dòng nước mắt lấp lánh tuôn trào trên đôi má xám xịt của A Phủ, thoảng chút đắn đo, sợ hãi nhưng Mị vẫn lén cắt dây trói. Sợ vì mình đã bị con ma nhà thống lý Pá Tra nhận mặt, sợ vì "bị đem trói thế A Phủ"...Tâm trạng đắn đo, sợ hãi đó quá nhỏ so với lòng trắc ẩn và nó tan biến đi khi Mị đẩy thống lý Pá Tra, A Sử sang một phía: “Chúng nó thật độc ác”.
            Mị cũng không ngờ giải phóng cho A Phủ là giải phóng cho chính mình. Phản ứng xin theo A Phủ là phản ứng tình thế, không lường trước được của Mị. Hoàn cảnh lúc ấy, Tô Hoài gói gọn diễn biến tâm trạng Mị trong một câu nói với A Phủ hết sức ngắn gọn: “Ở đây chết mất”.

            Đoạn trích Vợ chồng A Phủ trong Sách Giáo khoa 12 THPT, là phần viết về Mị và A Phủ ở Hồng Ngài, dung lượng không lớn nhưng chi tiết, hình ảnh, cốt truyện, nhân vật có độ nén, kết cấu chặt chẽ chảy trong lối kể hết sức tự nhiên. Có lẽ hạn chế của truyện là nguyên cả phần sau: Mị và A Phủ ở Phiềng Sa. Nhìn từ hoàn cảnh ra đời tác phẩm, tôi nghĩ, Tô Hoài viết thêm phần đó chủ yếu là góp phần cổ vũ công cuộc kháng chiến của nhân dân ta mà thôi. Thành công của truyện là đã xây dựng nhân vật Mị với diễn biến tâm lí chân thật, tự nhiên, sống động. Diễn biến tâm lí của Mị luôn gắn với hành động, từ việc ném nắm lá ngón đến cắt dây trói cho A Phủ đều xoay quanh căn cốt tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp, biết hi sinh vì người khác. Cái hay của tác giả khi dựng nhân vật Mị - nhân vật nội tâm, luôn xuyên suốt trong minh triết: Tâm hồn đánh thức tâm hồn, khổ đau thức tỉnh đau khổ. Nhân vật Mị xứng đáng là một trong những nhân vật kiểu mẫu của nền Văn học Việt Nam hiện đại.