Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016

Cơ chi trời đổ mưa ngâu


          Yêu em tim rực lửa hồng
          Em đi lấy chồng tim lạnh giá băng,
          Lỗi thề - bạc phận mong manh
          Đĩa dầu hao khuyết bóng trăng ngậm ngùi...

          Duyên tình đành đoạn thế thôi
          Em mang theo nửa kiếp người - hồn anh,
          Em mang theo mái tóc xanh
          Để cho ai vuốt thay anh canh dài?

          Cánh hồng e ấp làn môi
          Có còn duyên giữa cuộc đời bão giông?
          Có còn khóe mắt rưng rưng
          Trao người ta nỗi nhớ nhung đợi chờ?...

          Em đi mang cả hồn thơ
          Để anh đếm lá bên bờ cỏ lau,
          Cơ chi trời đổ mưa ngâu
          Để anh uống giọt lệ sầu chứa chan. 

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2016

TẢN MẠN THÁNG NGÀY MÙA LŨ

     
          Những người lính
          Hi sinh cho đất nước này
          Linh hồn hòa vào gió vào cỏ vào cây
          Là mây trắng bay giữa bầu trời xanh biếc
          Khi xung trận không một giây hối tiếc
          Dẫu đời xanh như lộc biếc non xanh
          Chiến tranh
          Người lính hi sinh
          Cha mẹ ông bà vợ con họ hi sinh
          Suốt cuộc đời
                                sau mỗi cuộc chiến tranh!
                                   *
          Hòa bình
          Mà sao cuộc sống chẳng an lành
          Thiên tai
          Biết kêu ai
          Lũ ống – lũ quét – đá lăn – đất lở
          Núi không còn rừng đồi chẳng còn cây
          Những ai tiếp tay lâm tặc?
          Thủy điện chiếm đất
          Xã lũ khi lũ dâng cao
          Nhấn chìm quê ta trong sóng nước thét gào
          Người chết
          Nhà trôi
          Ruộng lúa hoa màu mất trắng hết rồi
          Nước cháo cầm hơi
          Họ sống tiếp những ngày chưa thực sống
          Để thờ cúng
          Người trôi lũ cuốn trôi đi
          E vi en (EVN)
                                   nghe được gì
                                                  trong gầm gào của nước?
          Tiếng đếm tiền
          Lãi năm sau to hơn năm trước
          Lậu tăng thưởng lớn ních chặt hầu bao
          (Chẳng bao giờ nghe trong tiếng gầm gào
          Tiếng trăng trối, tiếng nghẹn ngào dân đen con đỏ)
                                           *
          Ôi cuộc đời khốn khó
          Hi sinh trong chiến tranh phận dân đen con đỏ
          Chết trong mùa lũ con đỏ dân đen!...
Mấy lời gửi kẻ cầm quyền
Dân là nước, nước lật thuyền có khi!

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

NGƯỜI ĐIÊN ĂN CƠM CHÙA

          Một trưa hè nắng gắt, con đường dầu chạy tới cổng chùa bốc hơi nóng hầm hập, chốc chốc gió lào quạt ngang như táp lửa vào mặt. Những chiếc lá trên cây xoài, cây sa bu chê trong sân co rúm lại. Nhiệt kế treo tường chỉ ba chín độ C. Sư thầy bỏ bữa, ngồi bên chiếc bàn nhỏ dưới mái hiên uống nước, mắt lim dim để giảm bớt cái nắng chói chang phản quang chứ không phải thưởng thức vị chát ngọt của trà, ở lâu trong chùa, chú tiểu biết hết. Xách cái quạt ra, tính cắm vào ổ điện, sư thầy ngăn lại: “Khỏi, mở máy quạt càng nóng con à”.
          Chú tiểu đổi phích nước, “cái này được đấy, uống nước trà vừa đỡ khát vừa đỡ đổ mồ hôi, không như uống nước đá con à” – sư thầy nói, mắt vẫn lim dim. Chú tiểu không trả lời, vội vàng: “Con ra đóng cổng chùa cái đã”. Nhìn ra cổng, sư thầy thấy một người đàn ông tóc tai bờm xờm, áo rách te tua, ngang hông đeo cái bi đông xăm xăm đi vào. Hóa ra là vậy, ông gọi: “Đừng con! Cửa chùa phải rộng mở cho tất cả chúng sinh”.
          Xách cái phích xuống bếp, cầm cái quạt tay lên cho sư thầy, cũng là lúc người đàn ông điên bước tới. Mồ hôi rịn ra trên trán chú tiểu, tay chân lóng ngóng. Chiếc áo rách phơi bày  da lưng da ngực đen đúa, nhớp nháp, vết sẹo trên má người diên kéo xếch khóe miệng lên trông như đang nhếch mép cười đểu. Đôi mắt không hẳn u uẩn, vô thần mà chất chứa một điều gì đó như khinh bạc…Sư thầy chào:
          - Chú ngồi uống nước, đứng đó chi, nắng lắm!
Người điên nói:
          - Sao không Nam mô A di đà Phật? Không đợi nhà sư trả lời, y nói trống không:
          - Cho bát cơm coi!
Sư thầy quay người lại nói với chú tiểu:
          - Con xuống lấy cơm, thức ăn lên cho chú này!
Chú tiểu ngập ngừng:
          - Thưa thầy cơm hết rồi
          - Phần cơm của thầy không còn sao?
          - Dạ còn, nhưng mà…
          - Cứ đưa lên đây, không nhưng mà gì cả.
          Người điên bưng tô cơm điềm nhiên đứng ăn dưới sân nắng. Sư thầy nói:
          - Chú ngồi vào bàn ăn cho mát, ai lại đứng dưới trời nắng khổ sở như thế!
Người điên cau mặt:
          - Ông nói sai rồi, trời mát! Ông nghĩ nắng mới nắng thôi!
          - Thì ngồi xuống ăn cho thoải mái.
          - Đang chào cờ!
Chú tiểu bật cười:
          - Đang ăn cơm, không phải chào cờ.
          - Tui đang chào cờ, cờ của tui là cờ… ơm… cơm. Cờ của người ta là cờ…cờ…
Sư thầy nhíu mày, có đúng là điên không đây, ngẫm ra người này quá thông tuệ là đằng khác, nghĩ thế, ông hỏi:
          - Chú nhớ nhà cửa ở đâu không? Đi lang thang chi cho khổ?
          - Ông khổ, nhiều người khổ, tui không khổ.
Từ tốn, chậm rãi ăn hết tô cơm, đặt xuống sân, y nói:
          - Tui là vua, ăn đâu uống đâu cũng được. Tui ăn không ai giành giật, còn người ta thì khác.
          Nhà sư giật mình, quả đúng thế thật. Trên đời này có ai giận hờn, trách móc, ganh ghét với người điên! Rót chén trà đưa cho người điên, sư thầy nói:
          - Uống chén nước, mà sao lại mang bi đông lủng thế?
Ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch, vừa cười vừa nói:
          - Bi đông lủng không có nước, không có nước mới xin nước, người ta thương người ta cho.
          Nhà sư kinh ngạc về tư duy logic của người điên. Bước tới đặt chén nước lên bàn, y nói:
          - Tui uống nước ở nơi khác cho bằng nhau.
Nói rồi quay đi. Nhà sư móc túi lấy độ chục ngàn tiền lẻ, đứng dậy:
          - Cầm mấy đồng, lỡ khi người ta không cho thì mua.
Người điên cầm nắm tiền tung lên trời, cười hềnh hệch:
          - Tiền mua được nước…tiền mua được nước…xin ông này không cho thì xin bà kia…Có đi xin mới biết được ai thương người điên…
Chú tiểu bây giờ đã bớt sợ, hỏi:
          - Ông cũng biết ông là người điên à?
          - Đó là tên của tui!
          - Làm sao người ta biết ông là người điên?
          - Đeo bi đông lủng. Muốn điên như tui thì ra khỏi chùa, đeo bi đông lủng…

          Nhà sư thở dài, lẩm nhẩm: “âu cũng là duyên nghiệp”, trân trân nhìn theo bước chân người điên. Bóng dáng người điên khuất sau khúc cua, chỉ còn lại mặt đường ngùn ngụt bốc hơi nóng và gió lào quạt ngang qua như lửa táp vào mặt.

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2016

THUYỀN GIẤY

      
          Chiếc thuyền giấy ngày xưa
          Bồng bềnh trên sóng nước
          Sóng nước của ao làng
          Gợn hồn ai mênh mang.

          Cô bé ấy ngày xưa
          Tóc mướt đen bồ kết
          Làn da mịn như tuyết
          Mắt đen tròn ngây thơ.

          Làng mình thuở ngày xưa
          Chiều khói lam mái rạ
          Tiếng sáo diều trong gió
          Thơm mùi cơm tháng mười…

          Nhẹ nhàng thuyền giấy trôi
          Ngược dòng đời hối hả,
          Ta ngược thời xanh lá
          Tìm về miền lá xanh.

          In bóng nước ao đình
          Một mái đầu sương trắng
          Cô bé ấy ngày xưa
          Khỏa tay làm nên sóng.

          Chiều nay làn mây ấm
          Trôi ngang qua ao làng
          Xốn xao lòng mênh mang
          Anh gấp con thuyền giấy…

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2016

NHỚ TRUNG ĐOÀN


          Ba năm – một cuộc đời quân ngũ
          Ba mấy năm xa cách Trung đoàn,
          Những gì từng trải qua rất đẹp
          Cháy trong lòng ký ức mênh mang!…

          Thao trường Cò Cưa nắng đổ
          “Kát tút” nhiều tựa vỏ sò,
          Đồng Mô một chiều diễn tập
          Chìm xe trôi mất ba lô.

          Những đêm mùa đông rét buốt
          Úp thìa nằm ngủ co ro
          Áp lưng trong lòng đồng đội
          Ghét ghê đứa ngáy khò khò…

          Về phép khao nhau “điếu khoẳn”*
          Thư nhà, chúng thích – đọc chung
          Chẳng có riêng tư gì sất
          Đồng đội – đồng chí – đồng lòng.

          Mỗi buổi sớm mai thể dục
          Một thằng hai cục đá ong
          Vác về dồn xây doanh trại
          Trông như đàn kiến băng đồng.

          Bữa chính ba lưng sắn lát
          Chạy đua bánh xích xe tăng
          Thao trường những trưa nắng đổ
          Nhớ sao dãi đất Hạ Bằng.

          Vui sao những chiều thứ bảy
          Cầu đêm gió mát trăng trong,
          Rủ nhau vào làng Phú Mãn
          Tìm trêu “hương nội gió đồng”.

          Mấy đứa ngày mai “tranh thủ”
          Trốn sang C khác ngủ nhờ,
          “Kinh nghiệm” đàn anh dạy thế
          Muốn không bỏ lỡ giấc mơ.**

          Tiểu đoàn có mấy thằng tếu táo  
          Thích chọc quê những đứa hiền từ,
          Chuyện tiếu lâm trên trời dưới đất
          Ngày ra quân lại khóc hu hu…
         
          Ba mấy năm…bồi hồi nhớ lại
          Thuở tráng niên là lính Trung đoàn
          Làm gì cũng vững vàng truyền thống
          Giúp  dân và xa lánh quan tham!

* thuốc lá, tiếng lóng của lính Trung đoàn 102
**Được cấp trên cho về thăm nhà thời gian ngắn.
Sang ngủ nhờ đại đội khác vì sợ đang đêm có lệnh
di chuyển, bị thu hồi giấy phép.

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

Em ơi có nhớ...

       
          Anh đã từng nghe khúc hát em ru
          Trong một chiều mưa mây giông vần vũ,
          Từng nắm tay em đi trên lối cũ
          Lối cũ người xưa cỏ mới lên xanh.

          Anh cùng em ngắm ánh trăng thanh
          Mảnh hồn quê vườn thu năm ấy,
          Ánh trăng thanh có mắt sao nhấp nháy
          Lóng lánh sương treo cành trúc la đà.

          Anh đã từng nghe em nói về hoa
          Bên ấm trà sương mùa đông năm ấy,
          Anh đã nghe tưởng chừng cháy máy
          Em gọi anh khi góc biển chân trời.

          Em đã từng rớm lệ đó thôi
          Xa cách bao lâu bất ngờ anh tới
          Bên nhau rồi em giận hờn em nói
          Làm tội anh vì tiếng gọi trái tim em…

          Em chỉ mong một cuộc sống bình yên
          Với anh, con và với cả mẹ hiền,
          Sân trước đầy hoa sau nhà chim hót
          Đừng như anh, con theo nghiệp bút nghiên!

          Con tàu anh năm tháng tuần duyên
          Rẽ sóng mà đi dù mưa hay nắng,
          Quen với bão giông, chạnh lòng trống vắng
          Sau ngọn hải đăng nơi ấy quê nhà.

          Tàu về bến em đã đi xa
          Em gửi lại cánh hoa năm ấy
          Cánh hoa mỏng manh nằm trong trang giấy
          Dòng chữ nhòe đau biết mấy nỗi đau!...

          Anh cứ tưởng mình mãi mãi của nhau,
          Đường cũ còn đây vườn trăng còn đó,
          Tới xứ cờ hoa em ơi còn nhớ
          Lời thề xưa trong tiếng gió miền quê?

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2016

MỘT LẦN ĐI HÁT PHƯỜNG VẢI CỦA CỤ PHAN BỘI CHÂU


Hát phường vải ở Nghệ Tĩnh là diễn xướng dân gian có trình tự lớp lang khá chặt chẽ. Địa điểm hát thường là mảnh sân nhà nào đó vào mùa kéo sợi xe tơ. Các cô gái làng vừa làm việc vừa hát, đó là hát dạo. Các chàng trai đi ngang qua cổng (như vô tình) dừng lại hát vài câu ướm thử (hát hỏi),  bên nữ đối lại -  hát chào, hát mừng. Thế nhưng để được mời vào trong sân hát, các chàng trai phải qua thử thách hát đố. Hát đố nhiều lĩnh vực nhưng những câu đố thường được đưa ra nhất là đố chữ, đố tình huống lễ nghĩa. Trả lời không nhanh, không chuẩn là thua, do đó, đi hát nhiều người, phát huy trí tuệ tập thể là rất cần thiết. Nghe hát phường vải, có nhà nghiên cứu nói rằng lời hát thâm thúy cao sang nhưng lại rất dân dã.
          Nam Đàn là đất hát phường vải, nơi đây có nhiều giai thoại về những đêm hát của những bậc túc nho, những người chí lớn. Nghe qua mấy câu  xe kết (hát thương, hát nhớ, hát trách) trong một đêm hát phường vải ở Nam Kim của cụ Phan Bội Châu, chúng ta mới hiểu thêm chí khí của người đội đá vá trời.
          Một cô gái trẻ đẹp, thông minh có tiếng gửi gắm nỗi lòng mình với anh San:
Sắp nhau một gánh nặng nề
Giang sơn bịn rịn tình quê nghẹn ngào.
          Tiếng địa phương “sắp nhau” nghĩa là gặp nhau. Hình như cô gái biết Phan Bội Châu đang nghĩ đến giang sơn nên không hiểu được “tình quê nghẹn ngào” của cô. Phan Bội Châu hát đáp:
Đêm xuân gặp gỡ giữa đường
Non sông một đội cương thường hai vai
          Cô gái nói “sắp nhau một gánh nặng nề”, còn với Phan Bội Châu chỉ là “đêm xuân gặp gỡ giữa đường” mà thôi. Non sông một đội - ở trên đầu, là lý tưởng theo đuổi, sau đó mới đến hai vai gánh vác tam cương, ngũ thường, phân định rạch ròi trách nhiệm của trai thời loạn. Trong tam cương, phu – phụ xếp ở vị trí thứ ba, sau quân – thần, phụ - tử. Mượn chữ “cương thường” mà anh San nói đến, cô gái không còn úp mở nữa:
Chung vai, chung cả đò đầy
Cho em chung mẹ, chung thầy với anh.
          Biết cô gái yêu thương thật lòng, tha thiết như thế, nhưng tiếng gọi cứu nước canh cánh trong tim, Phan Bội Châu khéo léo từ chối mà không để cho cô gái tẽn tò, trái lại, nâng tầm cô lên:
Chung binh, chung tướng, chung vương
Cùng anh chung cả tứ phương sơn hà.
          Cô gái biết tình yêu của mình không mảy may thay đổi ý định Đông Du của San, than thở:
Vui chi một cuộc cờ tàn
Mà chàng xe ngựa một đoàn sang sông.
          Cô nghĩ thế nước đã như cuộc cờ tàn, chàng gắng gượng làm chi. Phan Bội Châu tin tưởng vào kết quả công việc của mình, lật ngược thế cờ:
Nhất vui là cuộc cờ tàn
Mã lên chiếu bí pháo toan chiếu trùng.
          Không biết sau này cô gái ấy có gặp lại Phan tiên sinh lần nào nữa hay không? Cuộc đời cô như thế nào chúng ta không biết nhưng chắc chắn một điều là hình ảnh chàng thanh niên yêu nước Phan Văn San sống mãi trong trái tim cô, trong lòng dân tộc.
          Nhớ cụ Phan, nhớ những đêm trăng nghe hát phường vải ở miền đất địa linh nhân kiệt, tôi ước gì diễn xướng dân gian ấy được bảo tồn, phát huy, được đưa vào trường học để thế hệ trẻ hiểu tinh hoa, bản sắc cha ông mình hơn.