Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2015

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐỜI


CHƯƠNG VI

            Cánh đồng Rộc lúa đang thì con gái xanh mơn mởn. Mỗi khi có gió, những làn sóng xanh gợn lên, trông mê mẩn người. Năm nay thuận trời nên không đám ruộng nào bị bỏ hoang.
            Hai sào ruộng nhà ông Bạc, mọi khi cha con ông làm một ngày là xong, nhưng nay làm cỏ trễ lại một mình Lài nên xem chừng phải hai công rưỡi. Vừa làm cỏ cô vừa cố nuốt cục tức. Tuần trước, Lài phải lên bệnh viện chăm bố, cứ nghĩ ở nhà mẹ và thằng Vệ làm cỏ xong rồi. Lài và ông Bạc về, bà Mùi không nói chuyện cỏ rả gì cả, cứ thế lên đồi nhổ sắn về xắt lát phơi khô.
            Trưa hôm qua, ông Bạc đi họp về, nói:
            - Mai hai bố con đi làm cỏ lúa, cỏ nhiều quá.
Lài ngạc nhiên, bước xuống bếp hỏi mẹ:
            -Tuần trước bà mần chi mà không làm cỏ lúa? Khi tui về cũng không nói?
Bà Mùi mát mẻ:
            - Tui không phải ba đầu sáu tay, vườn tược, trâu nghé bỏ được à?
            - Rứa thằng Vệ ở mô?
            - Ở mô, ở mô có trời mà biết! Ngoài bữa ăn ra là biến mất dạng!
            Lài không nói nữa, có nói cũng thế thôi. Cứ nghĩ sau này mình đi lấy chồng, bố già đi, ốm đau luôn thì không biết cái nhà này sẽ như thế nào. Thằng Vệ, bằng thằng Toàn mà suốt ngày tụm năm tụm ba lêu lổng. Mà giờ này thằng Toàn ở đâu, có tìm được mẹ không? Nghĩ tới thằng Toàn, Lài cứ áy náy trong người. Thực tình, Lài không ghét thằng Toàn nhưng vì chuyện mẹ nó nên ghét lây. Hồi thằng Toàn bỏ đi được hai hôm, chị Phượng không nói chắc chắn bố bỏ công buổi đi tìm nó. Cái hình ảnh bố bỏ ăn, không làm nên việc gì, gương mặt khó đăm đăm, rầu rĩ trông thật tội nghiệp. Rồi không hiểu vì sao nó lây sang Lài nỗi chán chường. Ba giờ sáng, thức dậy đi tiểu, thấy bố vẫn thức ngồi hút thuốc lào vặt đầu hồi nhà, nói bố vào ngủ, ông thở dài: “Bố có tội với chú Triệu, bố chết không nhắm mắt được con à.”
            Mặt trời dần khuất sau dãy núi xa xa. Khi ánh nắng chiếu ngược lên, từ cánh đồng nhìn vào, dãy núi cứ xanh đậm dần, hình như là xanh tím. Thỉnh thoảng, từng đàn cò bay ngang vẽ nên một không gian yên ả lạ lùng. Lài vừa vơ cỏ, nhấn sâu xuống bùn vừa hát. Lẩm nhẩm trong miệng không rõ giai điệu nên cô lấy hơi hát nho nhỏ:
            Dòng sông quê em, dòng sông quê anh
            Sóng xanh như mắt trẻ, sao giống nhau đến thế
            Tiếng mưa như tiếng tằm ăn, tiếng mưa như tiếng tằm ăn
            Sông cho anh làm thơ…
            - Anh nỏ mần thơ mô, chỉ mần thợ thôi!
Sau câu nói là tiếng cười của chú Tấn làm Lài giật mình, đỏ mặt. Chưa biết đối đáp sao thì chú lại tiếp tục:
            - Hát hay rứa mà không tham gia đội văn nghệ xã.
Lài đánh trống lảng:
            - Chú Tấn đi mô về rứa?
Chú Tấn cười:
            -Ở nhà gọi chú vô rú (rừng) gọi anh. Em không gọi được một tiếng “anh” cho tình cảm à?
Lấy lại được sự tự tin, láu lỉnh vốn có, Lài cười:
            - “Chú anh Tấn” chưa trả lời em là đi cưa bà lão nào về?
            - Đã sinh ra kiếp đàn bà hơn dăm ba tuổi vẫn là làm em. Với lại, như anh đây đẹp trai nhất huyện nhì xã thứ ba xóm thì ra đường em mô mà nỏ mê. (em nào chẳng mê)
            - Nhiều em mê nên mãi tới bây giờ chưa chọn được em nào “trộm khăn móc túi”!...
            - Nhiều thì nhiều người thật, nhưng anh đây có người thương rồi.
            - Ai rứa anh?
            - Con gái ông Bạc, bà Mùi!
Lài móc cục bùn ném. Chú anh Tấn cười như xe ben đổ đá:
            - Yêu anh, Lài ném cục bùn
            Yêu Lài, chìa má anh hun cấy mồ (hôn cái nào)
Hai tay cầm hai cục bùn, bước lên bờ thì chú anh Tấn đã chạy xa rồi. Vừa chạy vừa quay đầu lại lè lưỡi “lêu..lêu…”
            Lài bật cười, quay xuống ruộng. Thế nào rồi mai mốt cũng rộ lên chuyện Lài là người yêu của “chú anh Tấn” cho mà xem. Ở cái làng này, hơn chục cô chưa chồng là “người yêu” của chú anh Tấn(!) Về tuổi tác, đám thanh niên gọi chú Tấn là đúng nhưng chú Tấn không đời nào chịu. Cứ là con gái, mười sáu mười bảy tuổi trở lên cho đến trung niên, chưa có chồng là chú Tấn xưng “anh – em” ngọt lịm. Ai “cả gan’ xưng “chú – cháu” là thế nào cũng có chuyện. Người ta sợ cái độ lì của chú, không trưa thì tối, đến nhà căn vặn người ta: “tui còn trai tân răng gọi là chú?”. Biện bác lại, chú lại “lý luân” viện dẫn cả cách xưng hô tây tàu đối chiếu, so sánh…Sau này, làng xóm hiểu ra có mà thừa hơi mà tranh cãi với anh khùng, gọi tiếng “anh” cho xong chuyện. Người “phát minh” ra cách gọi “chú anh Tấn” là Phượng. Đám thanh niên chọc: “Người ta là trai tân mà sao o Phượng gọi là “chú anh Tấn” hè(!) Chú anh Tấn biện bác: “Cũng có tiếng “anh” chớ, em Phượng gọi rứa được vì em Phượng đẹp, làm người yêu tui được”.
            Chú Tấn học giỏi có tiếng, đi bộ đội đánh Mĩ được tặng nhiều danh hiệu, nào là “Dũng sĩ diệt Mĩ”, “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”, huân chương chiến công…Bị thương ở chiến trường Quảng Trị, chú được chuyển ra bắc điều trị, có chế độ ở trại thương binh vĩnh viễn nhưng chú xin phục viên. Về quê, bỏ luôn chế độ thương binh, ai nói sao cũng mặc. Chú  nói: “Bạn bè trong đại đội chết hết, tui còn sống là may mắn lắm rồi. Mấy ông nói cống hiến, nói xương máu? Cống hiến chính là cha mẹ vợ con người lính. Còn xương máu, nên tập trung chế độ cho liệt sĩ. Mấy ông không ở chiến trường nên không biết, hy sinh nhiều lắm. Bị thương như tui lại càng nhiều. Thôi, cứ coi như tui bị tai nạn lao động đi. Còn sức lao động được thì đừng ỉ lại, đừng dựa vào ai, kể cả nhà nước”.
            Rồi xã cử chú đi học lớp Trung cấp chính trị, tính sắp đặt công việc gì đó cho phù hợp. Học được hai ngày, chú kêu đau đầu, nghỉ luôn làm thợ mộc. Khéo tay, cẩn thận, sáng tạo, nhận tiền công vừa phải nên không hết việc làm. Việc nặng nhọc thì kêu thêm người, chú chủ yếu quản khâu kỹ thuật. Đợt xã tổ chức lao động công ích thủy lợi, Phượng hỏi:
            - Chú anh Tấn răng không học dể mần cán bộ?
Chú Tấn cười:
            - Mần dân thích hơn. Mần cán bộ thì làm chi gần gũi được với các em yêu.
            - Ai mà dám yêu chú anh Tấn. Người ta yêu phải chung thủy, đằng này chú anh Tấn thấy em mô đẹp cũng yêu cả.
Chú Tấn bỗng nhiên nghiêm nghị:
            - Răng nói anh không chung thủy? Răng nói anh yêu nhiều người?
Rồi bỗng dưng chú khóc, không ai hiểu chuyện gì cả. Chú nói trong tức tưởi:
            - Hu…hu…Thành ơi…Dũng ơi…Sơn ơi…Có nghe em Phượng nói không…bây hấp hối nói tau …phải sống cho bây…hu…hu… yêu cho bây nữa…tau chưa tìm được người yêu cho thằng Hoàn…nói chi cho tau…Sơn ơi…em Phượng của mày nói tau …hu …hu không chung thủy…mà tau…đã có người…yêu..mô…hu…hu…
Bầu trời như thấp xuống, nặng nề u uẩn. Mấy đứa con gái mắt rưng rưng. Thì ra là vậy, chú Tấn mang theo ký ức hòa lẫn vào đời sống thực. Sang chấn tâm lý, hậu quả ghê gớm hội chứng chiến tranh làm chú Tấn mê mà tỉnh. Lâu nay, đám thanh niên chọc ghẹo chú như chọc ghẹo một người khùng. Mà có lúc người ta vô tâm quá, ngay như chuyện hành xử tức thì của Lài cũng vậy. Khi không thật quan tâm, hiểu và cảm thông cho người khác thì bột phát trong ứng xử cũng là tự nhiên thôi. Nghĩ lại, Lài thấy việc quan tâm người khác thành nếp, thường trực trong ý thức khó quá…Cho đến bây giờ, chỉ mình anh Tân là Lài luôn lo lắng, yêu chiều những gì có thể.

            Con cua đồng kẹp vào ngón út đau điềng, rảy nó không thả. Lài giơ nó lên khỏi ngọn lúa, đưa tay trái tính bẻ càng nó, chưa kịp bẻ cái càng cua còn lại kẹp luôn vào ngón tay cái. Đưa càng cua vào miệng cắn, bất ngờ nó thả ngón tay cái kẹp ngay vào cánh mũi Lài. Chưa bao giờ gặp phải tình huống như thế này. Tức chết đi được nhưng vẫn còn may. May vì không có ai ở đây, chứ không người ta cười cho thúi mũi. Bẻ cái càng cua kẹp ngón út, nó nhíp lại đau hơn. Đau tay một chút không là gì chứ bẻ càng kẹp mũi nó nhíp cho chảy máu, lỡ nhiễm trùng sưng tấy đỏ thì hóa thành thị Nở mất. Mỗi tay cầm một mấu càng, Lài kéo ra thật mạnh. Gỡ được rồi định ném thật mạnh lên đường cho bõ tức thì thấy cái yếm nó cơi lên đầy một bụng trứng nên Lài thả nó xuống ruộng. “Mi là con cua đực thì nát thân với tau rồi”, cô lẩm bẩm.
            Sâm sẩm tối, có cố thế nào cũng mất buổi nữa đành ra mương nước rửa tay chân. Vừa bước lên đường thấy thằng Tập hớt hơ hớt hải chạy lại.
            - Chị Lài về mau, công an bắt thằng Vệ đưa lên huyện rồi!
Lài hốt hoảng:
            - Răng mà bị bắt, công an bắt khi mô?
            - Hồi chiều, hắn bị bắt vì ăn trộm phân đạm của hợp tác xã.
Chân tay Lài bủn rủn. Cô nghĩ đứa em chơi bời lêu lổng do tính nết lười biếng cộng với sự nuông chiều của bố mẹ, còn việc nó trộm cắp chưa bao giờ thoáng qua trong suy nghĩ của cô. Từ nay về sau người trong làng trong xóm sẽ nhìn nhà mình với con mắt khác, đàm tiếu, móc máy rồi một nói thành năm, thành mười, thêm dấm thêm ớt, thành câu chuyện làm quà…mẹ thì có lẽ không sao chứ bố khó vượt qua được cú sốc này. Đôi khi trò chuyện với Lài, bố tự hào: “Họ hàng bên nội các con người giàu có, nghèo có nhưng tuyệt đối không ai trộm cắp, vướng vào vòng lao lí”. Không biết ông có nói điều đó với ai không nữa? Bố không nói thì người ta dè bửu một, nếu nói thì dè bửu mười. Cứ nghĩ đến đó trong lòng cô phấp phỏng bồn chồn, những tháng ngày tới đối mặt với xóm làng sao đây…Rồi Lài nổi cơn bực tức, từ đứa em lêu lổng đến ông Bac, bà Mùi. Cô đay nghiến trong lòng: “Đó, bà mặc kệ nó giờ nó bôi tro trát trấu vào mặt rồi:, “Bố cái gì cũng nhẫn nhịn, nhẫn nhịn để tạo cái vỏ gia đình nền nếp à? Bố chống mắt lên xem thằng con trai quý tử, thằng cháu đích tôn báo hiếu đó…”
            Tới đầu ngõ xóm, dưới cây đa, mấy người xóm ngoài đi nhổ sắn về, ngồi nghỉ, túm tụm bàn tán.
            - Thật tội cho ông Bạc, chưa hết chuyện em dâu nay lại chuyện con cái.
Bà Sáu sẹo the thé:
            - Nào chỉ có chuyện em dâu, con cái. Bà Mùi cũng xí xọn lắm, cái sừng trên đầu ông Bạc thành cái gạc nai rồi.
Bà Tuyết cởi khăn trùm đầu lau mồ hôi trán, nói:
            - Bà đừng nói rứa mà phải tội, cái chi biết thì mới nói. Biết năm biết mười mà nói một thì nó hay hơn.
            - Xì…bà đừng có mà đạo đức giả. Tui dựng chuyện chắc?!
Nhác thấy Lài, mọi người im bặt. Bà Sáu sẹo giả lả:
            - O Lài đi làm ruộng về à, siêng quá. Ai cưới được o Lài là phúc đức lắm đó.
Lài nén cục tức lại, cố ra vẻ bình thản nhưng trong giọng nói không khó để người ta nhận ra sự mai mỉa:
            - Cái phúc bên vợ không bằng cái nợ bên chồng mô bà ạ!
            Một câu nói nghe qua thường tình thôi nhưng với bà Sáu sẹo thì đau hơn hoạn, đám người đi chung hiểu thế. Chả là con gái bà Sáu sẹo “xinh nhất hàng tổng”, đám trai làng đừng có mà xớ rớ. Nó xinh như thế phải gả vào nơi quyền quý cao sang nở mày nở mặt chứ không thể lam lũ được. Bà Sáu sẹo nói thế và làm thế thật. Gả cái Luyến cho con ông trưởng phòng tài chính huyện, đám cưới rình rang lắm. Ngày lại mặt, hai vợ chồng xe hơi về làng bấm còi bin bin, oách lắm. Rồi đám giỗ nhà vợ, chàng rể lại đánh xe con chở nhạc phụ đi mời mấy ông tai to mặt lớn trong làng, trong xã. Khổ nổi khi đi quên mang theo cái que xâu dép bằng đồng lá, nên khi dép tụt quai đành bỏ trong xe, ông Hiệp chân đất vào nhà chủ nhiệm hợp tác xã. Bà vợ Hoàng Hói từ bếp xách siêu nước lên, thấy vậy cười:
            - Áo bỏ trong quần, thắt củ lạc, răng mà lại đi chân đất, ông Hiệp?
            - Dép tụt quai, tui để trong ô tô.
Phượng cầm chiếc nón đứng dậy, mói:
            - Chân dép lốp bước lên tàu vũ trụ còn được, chân đất bước lên xe hơi là chuyện thường, ông nhẩy.
Hoàng Hói cười cái điệu cười nịnh:
            - Hi..hi...o Phượng hài hước mà sâu sắc ghê!
Phượng chào ông Hiệp, vợ chồng Hoàng Hói, bước ra cổng. Con rể ông Hiệp cười với lời chào, đong đưa:
            - Chào người đẹp, người đẹp đi đâu, lên xe anh chở đi.
Phượng cau mày;
            - Sao dám xưng anh với tui?
            - Em bằng tuổi vợ anh, chắc là bạn bè, phải không? Mà bạn của vợ cũng là bạn của chồng, đúng không nà!
Phượng nghĩ cái loại háo sắc này không trị không được, cô à ơi:
            - Tui cũng nghĩ rứa. Với lại tui không xứng ngồi trên chiếc xe ni.
            - Trời, em mà không xứng thì trên trái đất này không còn ai xứng, anh chỉ sợ ngược lại thôi.
            - Đàn ông ai cũng đầu môi chót lưỡi. Tui chừ lên huyện, có chở được không?
            - Được, được chứ! Chở ông chủ nhiệm về nhà bố Hiệp rồi anh đón em đi liền. Con rể ông Hiệp liến thoắng. Phượng làm bộ e ngại:
            - Rứa có được không? Còn đám giỗ nhà vợ thì…
            - Không sao đâu, chàng rể bà Sáu sẹo cướp lời, năm nào chả có đám giỗ.
            - Nhưng mà răng lại tự nguyện chở tui đi?
            - Anh đã nói rồi, giúp bạn là việc nên làm. Với lại có người đẹp ngồi bên tay lái là niềm tự hào. Anh tôn sùng cái đẹp mà!
            - Luyến đẹp nhất hàng tổng, Bà Sáu khẳng định thế còn gì?
            - Luyến đẹp nhất hàng tổng thì em đẹp nhất hàng tỉnh, hàng quốc gia, anh nói thật đấy!
Phượng bỗng nghiêm nét mặt, giọng đanh lại:
            - Lúc nãy chừ mi xưng anh với tau, lại còn cợt nhả, tán tỉnh nữa. Mi không biết thì về hỏi vợ mi. Mẹ vợ mi kêu tau bằng o, o lớn đó, rứa thì mi biết phải kêu tau răng rồi!
            Con rể bà Sáu sẹo tái mặt. Vừa lúc ông Hiệp, Hoàng Hói đi ra, Hoàng Hói cười đểu:
            - Xe đẹp nhẩy, o Phượng?!
            - Cháu gặp bà o, hỏi chút chuyện. Con rể bà Sáu sẹo lấp liếm.
Hoàng Hói nghĩ không ra, Phượng có họ hàng chi với bà Sáu sẹo mà thằng rể ông Hiệp kêu “bà cô”? Khi ăn cỗ, Hoàng Hói đem chuyện hỏi, Bà Sau sẹo chửi:
            - Mẹ tổ cái con mất dạy, tui với nó có họ hàng chi mô!
Hôm sau, đi chợ, bà Sáu sẹo nói chuyện với bà Suất – người hay đưa chuyện nhất làng:
            - Con Luyến về nhà chồng mà không quên giỗ chạp. Vợ chồng nó về lo hết. Tui mời mười mâm khách mà nó kêu ít!
            Chừng hơn một năm sau tai họa ập xuống nhà chàng rể. Luyến sinh đứa con gái bị sứt môi. Ông nội đứa bé bảo phải ra Hà Nội vá, chưa kịp đi thì ông bị đình chỉ công tác về tội tham ô. Chồng Luyến gây tai nạn, mà là tai nạn kép. Thì ra chiếc xe lâu nay chàng rể đi là mượn của hợp tác xã liên hiệp vận tải. Đầu xe bẹp rúm, nghe đâu sửa lại được cũng bằng hai phần ba số tiền mua xe mới. Lại nữa, cô gái đi cùng bị gãy chân, dập lách phải chuyển ra Hà Nội điều trị dài dài. Chàng rể chấn thương sọ não, bác sĩ bảo sống được nhưng rất khó hồi phục trí nhớ… Bà mẹ chồng chỉ mặt Luyến:
            - Mày là con ác nanh mỏ đỏ mang tai họa đến nhà tau. Một mình mày báo chưa đủ hay sao mà đẻ thêm con ác nanh con nữa, trời ơi là trời…
            Luyến đành đem con về nhà mẹ đẻ. Mẹ con cứ thay nhau ốm đau bệnh tật. Mới mấy tháng mà gái một con trông gần như đã năm mươi. Khổ nhất là nghe người ta móc máy: “Dạo này không thấy ô tô về làng nữa, ông nhẩy”, “Đám giỗ nhà bà Sáu sẹo năm nay chắc hơn chục mâm chớ, năm ngoái đã chục mâm rồi…”, “Đời nỏ biết ai hơn ai, như ngồi xe bò lốp anh Hoài đánh đi mời đám giỗ hơn ngồi ô tô khét lẹt mùi xăng bà nhẩy…”
            Hoài là chàng trai năm xưa cưa cẩm Luyến. Khi nghe bà Sáu sẹo tuyên bố chỉ gả con gái cho nơi phú quí, Hoài chém nhát dao vào cột thề phải giàu sang hơn bất cứ người nào trong dòng họ bà Sáu sẹo. Hai lăm tuổi, anh đã có cơ ngơi người trong làng ai cũng mong muốn. Ao cá rộng, có nước ra nước vào, mỗi năm thu vài tấn. Chân ruộng cao và mấy công đất đồi trồng cỏ nuôi tám con bò cái. Từ khi sắm được chiếc xe bò lốp kéo thuê cho người ta không hết việc, sợ con trâu mộng không đủ sức nên lại tậu thêm một con nữa. Mười ngày đi kéo xe đủ trả tiền thuê người phụ việc và chi phí chi tiêu cả tháng cho Hoài và bà mẹ già. Làm ăn vững vàng, kinh tế phát triển thấy đươc là thế nhưng Hoài vẫn chưa nghĩ gì đến chuyện vợ con. Mỗi lần thấy bóng Hoài là Luyến lại lánh mặt. Có lần Hoài chặn lại, nhìn Luyến với ánh mắt xót xa: “Tui có phải hủi đâu mà Luyến trốn. Luyến yếu đuối thì gục luôn đó, cố mà đứng lên, đứng lên được thì cố đi, đi được rồi chạy, cái chi cũng phải cố gắng, tình cảm cũng rứa, Luyến à!”
            Tối đó, Luyến bỏ cơm. Bà Sáu sẹo nói:
            - Mi không thương cái thân mi thì thương tau với. Đổ bệnh xuống đó thì ai lo? Cố mà nuốt những thứ ngày xưa từng nuốt đi con ạ, có nghe tau không?
            - Nghe bà nên tui giờ mới thế này đây!
            - Mi nói rứa mà được à? Hồi đó mi cũng ưng làm dâu nhà đó chớ.
            - Tại bà cấm cửa anh Hoài. Chừ đi mô người ta cũng đàm tiếu, tui muốn chết quách cho xong.
Bà Sáu sẹo hạ giọng:
            - Mi đừng nghĩ quẩn. Có lẽ mi hồng nhan nên bạc phận con à. Nhà đó đuổi thì ly dị đi, rồi kiếm đám khác, khi khỏe lên, đẹp ra thì khối thằng mê!
            - Thằng mô mà mê gái bỏ chồng, họa có điên.
Rồi Luyên lại bàn, xới bát cơm hấp sắn cố nuốt mà cứ nghẹn mãi. Ở nhà chồng ăn trắng mặc trơn, bữa nay món này mai món khác. Nhà mình quanh năm suốt tháng hết cà lại nhút, canh rau vặt, bữa nào vội lại chan nước chè khô. Gắp miếng nhút, Luyến tự nhủ: phải tập lại, phải quen trở lại. Anh Hoài nói đúng lắm, phải cố lên không thì gục mất…

            Bà Sáu sẹo cứ trân ra sau câu nói của Lài. Sao nó ác khẩu thế. Ừ, con gái bà sa cơ nhưng nhà bà cô có hơn gì? Mà cái thân cô nữa, qua truông rồi hãy hay cô a!
            Ở đời, ai cũng cho mình là tốt, mình có quyền phán xét người khác. Họ có hay đâu những câu nói, ánh mắt, cái khịt mũi, phẩy tay…làm tổn thương kẻ khác chính là liều thuốc độc đang dần dần hủy hoại nhân cách họ. Người ta thấy cái xấu, cái sai của người khác rõ như nhìn bằng kính hiển vi. Cho nên, việc phán xét, bình phẩm, nhạo báng cũng tương đồng theo cách nhìn ấy. Lẽ ra nên thông cảm, sẻ chia cho nhau thì người ta lại làm điều ngược lại. bà Sáu sẹo cũng quá mà o Lài cũng không vừa. Thấy bà Sáu sẹo trân ra, bà Tuyết thở dài, cho đòn gánh vào đầu gióng, nói:
         - Ta về thôi, bà Sáu!

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

KHÔNG THỂ QUÊN EM

        
              Anh không còn trong trái tim em
            Thay vào đấy là bóng hình kẻ khác,
            Em sẽ lại đắm say, khao khát
            Như yêu anh nồng thắm buổi đầu?

            Em trong tay người ấy về đâu?
            Xin đừng bước qua nhịp cầu thuở trước
            Đừng đến vườn cau trong đêm trăng khuyết
            Trao thề nguyền hẹn ước trăm năm…

            Một mình anh đi dưới trăng rằm
            Con đường cũ bỗng dưng xa lạ quá
            Đường gập ghềnh hay bóng anh nghiêng ngả
            Khi phương nào anh cũng một anh thôi.

            “Nỗi đau nào rồi cũng nguôi ngoai”
            Hắt ly rượu, bạn anh nói thế
            Ừ, anh hiểu cuộc đời dâu bể
            Sao đắng lòng không thể quên em!... 

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG ĐỜI


CHƯƠNG V

            Khi thằng Toàn và Danh Điếc lạy xong ba lạy, lão Tú Chột bảo hai đứa đứng lên, nói chậm rãi:
            - Bây giờ hai con là đệ tử của ta, nhưng chỉ ở đây thôi còn bất cứ nơi nào khác không được có cử chỉ hay lời nói để lộ ta là sư phụ, biết chưa!
            Tiếng “dạ” của chúng lí nhí trong cổ họng, im lặng một chút, lão Tú Chột nói:
            - Hai đứa phải nhớ cho ta mấy điều này: một, không được sử dụng võ nghệ ta dạy ngoài việc tự vệ. Hai, trong bất cứ tình huống nào đó, có ai truy các con người nào là sư phụ thì không được nói là ta, biết chưa!
            - Dạ biết! Lần này tiếng “dạ” của thằng Toàn, Danh Điếc nghe rõ ràng hơn.
            Lão Tú Chột chỉ ngôi mộ duy nhất có tường bao quanh, nói:
            - Người nằm dưới ngôi mộ này là ân nhân và cũng là sư phụ ta. Ta đã hứa với người chỉ truyền võ nghệ cho một, hai đệ tử mà thôi. Nay ta chọn hai con làm đệ tử cốt là truyền giữ cái tinh hoa võ học. Sau này các con chọn đệ tử cũng nhớ lấy điều đó, biết chưa! Trước lúc thắp hương khấn sư tổ, ta nói luôn: thằng Toàn nhỏ tuổi hơn nhưng cốt cách chính đính, cơ bản hơn nên làm huynh trưởng. Với ta, ta nghĩ rằng không phải bao giờ tuổi lớn hơn cũng chuẩn mực hơn đâu.
            - Con biết rồi, sư phụ.
Thằng Danh Điếc nói rồi xếp hoa quả, gói bánh vào cái dĩa đặt ngay ngắn trước mộ. Nó nghĩ phúc bảy mươi đời mới được làm đệ tử của sư phụ. Chưa đi xa nhiều, chỉ từ Huế đến Hà Nội thôi, nhưng nó biết giới giang hồ ở đâu cũng nể mặt sư phụ. Nể vì tài năng, hiệp nghĩa. Nó biết, sư phụ “rửa tay gác kiếm” lâu rồi nhưng lời nói đối với giới giang hồ vẫn trọng lượng lắm. Chuyện gì sư phụ ra tay là xong. Đại ca nó từng hỏi có bí quyết gì, sư phụ cười, nói: “Bí quyết là không bao giờ giành lợi cho mình, vì bản thân mình”. Mà đúng thật, có bao giờ nó thấy sư phụ tranh giành thứ gì đâu, chỉ cưu mang, giúp đỡ kẻ khác thôi…
            Dưới bóng trăng mờ, mùi hương trầm thoang thoảng, không gian vắng lặng gợn cảm giác lãng đãng, u tịch như sự giao thoa giữa cõi âm và cõi dương. Thằng Toàn căng mắt nhìn theo dáng lão Tú Chột khi cao khi thấp, thoắt vòng trái rồi xoay người tấn phải nhẹ như mây bay thông như nước chảy, khi lảo đảo như say, lúc mềm mại như múa, uyển chuyển lạ thường. Mắt nó dần như hoa lên nhìn theo cái bóng chập chờn…rồi cái bóng ấy trầm xuống lắc lư nghư mãng xà trước mối hiểm nguy bỗng vút lên như đại bàng tung cánh. Thằng Toàn chưa kịp xoay người thì vai phải nó bị bàn tay mạnh như kìm bóp chặt.
            - Đau quá, sư phụ!
            Danh Điếc kêu lên. Khi thằng Toàn quay lại thì thấy gáy Danh Điếc đang trong bàn tay sư phụ. Buông hai đứa ra, lão Tú Chột ngồi xuống cái ghế xếp. Thằng Toàn nói:
            - Bài quyền ảo diệu quá, con hoa cả mắt.
Lão Tú Chột với cái áo vắt trên thành mộ lấy thuốc ra hút. Bập một hơi thuốc dài, nhẩn nha nhả khói, lão nói chậm nhưng rành rọt:
            - Bài quyền ta đi cho hai con xem là bài Hà Lam quyền. Tại sao gọi là Hà Lam? Hà là sông, Lam là tên. Bài quyền này do sư tổ các con sáng tác trên cơ sở chiết ra những thế, miếng tránh đòn của rất nhiều môn phái rồi nghĩ cách liên kết lại. Các con thấy đấy, các thế võ thay đổi liền lạc kết hợp nhuần nhuyễn cơ động thân pháp như một dòng chảy không ngừng. Khi các con tập luyện thành thục bài quyền này chắc chắn không một ai đánh trúng được các con.
Danh Điếc hỏi:
            - Vậy bài quyền này không tấn công địch thủ phải không sư phụ?
            - Ừ.
Như đoán được ý nghĩ của Danh Điếc, lão Tú Chột nói:
            - Học võ không được nôn nóng, phải luyện chính xác từng chiêu thức từ dễ đến khó. Học mà không luyện cũng như không. Khi luyện phải tập trung tinh thần, từ chậm đến nhanh. Tốc độ tay chân có giới hạn nhưng trong đầu phải nghĩ có thể còn nhanh hơn nữa, cho tới khi thành phản xạ tự nhiên mới được coi là thành quả.
            Thằng Toàn thì nghĩ trong mọi trường hợp xảy ra xô xát hay bị chặn đánh vì bất kỳ lý do nào đó, không ai động được tới mình là tốt quá rồi, còn gì hơn nữa. Nó nhớ lại hình ảnh đại ca giỏi võ là thế, mạnh bạo là thế nhưng vẫn ăn đòn nhừ tử của đám Hùng Heo đến nỗi phải nằm liệt giường gần cả tháng đấy thôi. Hôm ấy không có sự can thiệp kịp thời của mấy chú kiểm tu thì có lẽ đại ca nó cũng vong mạng. Rồi cũng chỉ mấy lời của sư phụ mà Hùng Heo kiếm đâu ra miếng mật gấu, chai thuốc dầm đem cho đại ca dưỡng thương, lại nhường cả nửa mối làm ăn nữa…Trong cái giới làm ăn phi pháp, nó thấy thù đó rồi cũng thành bạn ngay đó, ân oán sòng phẳng, dứt khoát. Lời ăn tiếng nói khó nghe nhưng tình nghĩa còn hơn anh em ruột thịt, không như họ hàng nhà nó…
            - Hai đứa đứng cách ra một chút, buổi học đầu tiên ta dạy các con tư thế bái tổ.
Câu nói của lão Tú Chột cắt ngang dòng suy nghĩ của thằng Toàn, nó đứng ngay ngắn, chú ý làm theo từng động tác của sư phụ.
            - Bái tổ là thể hiện sự thành kính tôn sư của người học võ và cũng là tư thế khởi động, chuẩn bị cho tập luyện hay chiến đấu. Người có võ công cao cường giao đấu với nhau chỉ nhìn qua cách bái tổ cũng biết được thực lực đối thủ bảy tám phần. Thế bái tổ nhìn qua không khó nhưng thực hiện cho chuẩn, kết hợp động tác tay chân và hít thở nhuần nhuyễn, thần thái tự nhiên cũng không phải dễ. Do đó, các con ngoài tập tư thế này cần phải tập bổ trợ khí công, uốn dẻo, biết chưa!
            Lão Tú Chột hài lòng với tinh thần tập luyện của đệ tử. Chúng nó tiếp thu nhanh, động tác khá thuần thục nhưng chưa có lực. Lão biết học võ trước tiên cần luyện thể lực nhưng như thế thì liệu bao giờ mới truyền dạy xong cho thằng Toàn? Chi bằng cứ dạy chiêu thức rồi chính việc luyện chiêu thức mà nâng cao thể lực, một công đôi chuyện. Nghĩ thế, lão nói:
            - Lẽ ra hôm nay ta chỉ dạy các con bái tổ nhưng hai đứa học nhanh, ta dạy thêm mấy thế tấn. Tấn là gì? Là giữ vững thân pháp để phòng thủ, phản đòn hay tấn công. Tấn không vững thì thủ sơ hở, tấn công không sắc. Trong võ thuật di chuyển phải nhẹ như mây bay, thuận như nước chảy nhưng khi dừng lại phải vững như núi, ngàn cân xô không đổ, đó là tấn…
            Lão Tú Chột vừa làm mẫu vừa giảng giải cách thức, động tác, ý nghĩa. Hai đứa hiểu nhanh nhưng thực hành lại thấy khó quá. Trung bình tấn chỉ là động tác hai chân rộng hơn vai một chút, như ngồi tưởng tượng trên ghế, hai tay nắm chặt, ngửa lên để sát bên hông, từ lưng lên tới đầu thẳng. Thế nhưng để thăng bằng được chúng lại chúi người ra phía trước. khi thẳng được lưng thì nhóm cơ dưới bắp đùi, bắp chân như bị kéo căng ra sau, đau quá. Mới thực hiện được dăm bảy lần mà hai đứa đã đổ mồ hôi trán, thở hụt hơi.
            Co một chân lên ghế, nhẩn nha nhả khói, lão Tú Chột nói:
            - Năm xưa, khi ta đã thành thục các kiểu tấn, sư phụ dạy cách tập luyện công phu. Thế tấn này thay vì hai tay đặt ngang hông mà ôm một cái lu đứng hàng tiếng đồng hồ, mỗi ngày sư phụ đổ thêm một gáo nước cho đến khi đầy mới thôi. Hay như kim kê tấn, mỗi tay giang thẳng cầm một viên gạch. Ta khổ luyện mãi mà cũng chỉ nâng được sáu viên. Sư tổ các con nói là do ta tập võ trễ, người học võ từ khi năm tuổi có thể nâng được mười viên đó.
Nghe sư phụ nói, thằng Toàn cắn môi luyện tập. Danh Điếc mỏi quá, muốn nghỉ nhưng thấy huynh trưởng đang luyện nên phải cố theo. Biết trước học võ phải khổ luyện nhưng nó không ngờ chưa học đánh, đỡ mà đã khó nhọc thế! Không biết rồi sau này ra sao nữa đây. Nhưng mà, chậc…kệ, chẳng lẽ Toàn Cò theo được mà nó lại không? Nghĩ thế, Danh Điếc vuốt mồ hôi luyện tiếp.
            Cánh đồng sáng lên đôi chút khi mặt trang đi qua khỏi đám mây. Không gian vắng lặng,   mông lung gợn lòng người cảm giác mơ hồ một điều gì đấy. Hai cái bóng đứng tấn im lìm, ở xa một chút nhìn vào chắc người ta nghĩ đó là những gốc cây mồ côi giữa đồng không mông quạnh.
            - Thôi, nghỉ được rồi, tranh thủ thời gian rảnh các con tự luyện nhưng chú ý đừng để một ai biết.
Lão Tú Chột đứng dậy, Danh Điếc xếp cái ghế lại tính mang về. Thấy vậy, lão nói:
            - Con để vào trong mộ cũng được, đem về chi cho mất công.
Rồi quay sang hỏi thằng Toàn:
            - Con về nhà ông Đức hay ra ga?
            - Con ra ga thăm đại ca một chút.
            - Ừ, ba bốn bữa nay con không ra thăm nó rồi, có việc gì à?
            - Dạ, con ôn thi học kỳ, với lại phải trông nhà cho bác Đức vào Quảng Trị tìm mộ bác Tài.
            - Bốn năm nay, cứ vào độ này là ông ấy lại đi tìm. Mong cho ông ấy sớm tìm được mộ chú Tài, chứ như thế này mãi thì khó khăn, tốn kém cho ông ấy quá.
Rồi tất cả im lặng, lầm lũi đi. Danh Điếc giữ ý, tụt lại sau, rẽ qua khu tập thể nhà ga, trèo tường về “đại bản doanh” đường tàu cụt. Thằng Toàn vào quán thấy đại ca nó đang múc nước cho mấy chú kiểm tu. Nó hỏi:
            - Đại ca ngồi dậy được rồi ạ?
            - Mày bây giờ đâu còn là đàn em tao nữa đâu mà gọi đại ca, cứ gọi Sơn Bạch tạng là được rồi.
Lão Tú Chột nói:
            - Mày vào nghỉ đi, để tao!
Thằng Toàn theo Sơn Bach tạng vào ngăn sau, nó rút cái quạt mo lão Tú Chột dắt trên mái quạt cho Sơn Bach tạng.
            - Đại ca thấy trong người sao rồi?
            - Đã bảo rồi, mày đừng gọi tao là đại ca nữa!
            - Dạ, nhưng em quen rồi.
            - Quen gì mà quen, tao cấm! Lão Tú Chột nói hoàn cảnh, tư chất mày chỉ hợp với học hành khoa bảng. sau này có trở thành luật sư, bác sĩ cho đám bụi chúng tao nhờ.
            - Đại ca…à…anh nằm xuống đi, em xoa bóp cho.
Chiều lòng thằng Toàn, Sơn Bạch tạng nằm sấp xuống gường. Thằng Toàn giở bài tẩm quất học lỏm được của mấy ông mù đem ra thực hành. Sơn Bach tạng hỏi:
            - Mày sống với nhà ông Đức ra sao?
            - Dạ, tốt ạ.
            - Có khó khăn gì không?
            - Dạ, sướng hơn hồi ở quê đóng gạch nhiều.
            - Đ…má, sao mày không nói sướng hơn ở tù luôn đi, so với ở đây thế nào?
            - Dạ, thực lòng mà nói, tốt hơn ở đây ạ.
            - Vậy được.
Nói rồi nó đứng dậy, mặc cái áo thun vào, móc trong túi quần một nắm tiền, đưa cho thằng Toàn:
            - Cầm lấy mà tiêu!
            - Dạ, em không lấy đâu, đại ca…à anh để lại mà bồi dưỡng…
            - Mày làm như tao sắp chết đến nơi rồi. Cầm lấy!
Biết tính đại ca nên thằng Toàn đành cầm mà nước mắt rơm rớm. Sơn Bạch tạng cười:
            - Ha…ha…lão Tú Chột nói không sai, mày nước mắt nhiều như nước đái…
Tiếng còi tàu từ xa vọng lại, Sơn Bạch tạng nói:
            - Mày ở đây chơi với lão Tú Chột, tao đi mần ăn.
            Thằng Toàn nhìn theo dáng Sơn Bạch tạng. Nước mắt nó trào ra thành dòng. Nó không hiểu lắm về đời tư đại ca, chỉ biết nhiều đau khổ, uẩn khúc, từng vào tù, mà là tù thay cho kẻ khác, sư phụ nói thế. Nhớ lại hồi vào Vĩnh Linh tìm mẹ không được, đành quay về quê chứ biết đi đâu. Tàu dừng ở ga Đồng Hới, xuống bờ ke tính mua cái bánh mì ăn cho đỡ đói thì đột nhiên nó bị lôi đi tuồn tuột. Cái thằng tóc dài ngang vai, mặt rỗ, áo phông chim cò, quần bộ đội lôi nó đi tuồn tuột ấy, nói:
            - Im mồm theo tao!
Mặt nó tái mét, chân tay run lẩy bẩy, chân nọ xọ chân kia líu ríu đi theo thằng mặt rỗ một cách vô thức. Đến góc tường cạnh cây phượng, nó thấy ba thằng tầm lớn hơn nó vài tuổi. Thằng lôi nó đi nói:
            - Nó đây, đại ca!
Một thằng vóc dáng nhỏ nhất trong bọn, trắng trẻo, đeo kính trắng hay kính cận không biết nữa, nhìn nó từ đầu đến chân, hỏi:
            - Đi đâu?
            -Dạ, em đi Vinh.
            - Làm chi?
            - Dạ, em về quê ạ.
            - Vé đâu?
Thằng Toàn móc túi lấy vé xe lửa. hai thằng đứng cạnh cười hềnh hệch:
            - Mụ nội mày! Giả nai hả?!
Thằng Toàn ngơ ngác. Nìn điệu bộ của nó, thằng áo cho cò gằn giọng:
            - Mày không biết luật hả mày?!
            - Luật gì ạ?
            - Luật vi phạm lãnh thổ! Nộp tiền vé!
Thằng Toàn chưa kịp hiểu ra điều gì, hai thằng đứng cạnh thằng kính trắng cặp sát người nó, thò tay móc túi.
            - Chỉ có đồng bảy, đại ca!
Thằng Toàn la lên:
            - Không được lấy tiền của tui! Mấy anh không được lấy tiền của tui!...
Thằng áo chim cò tát cái ‘bốp”. Mắt nó hoa lên, miệng trào máu.
            - Ai lấy tiền của mày, tiền luật, cút!
Thằng Toàn òa khóc, mấy thằng cướp tiền của nó bỏ đi. Nó bị trấn lột cách bờ ke sân ga chỉ hơn chục bước chân, nhiều người thấy nhưng nào ai lên tiếng. Thất thểu bước về phía đoàn tàu, gặp một anh công nhân kiểm tu, nó nói:
            - Chú ơi, có mấy thằng lấy hết tiền của cháu rồi.
Anh công nhân kiểm tu nhìn kỹ nó, hỏi:
            - Chúng nó thế nào? Mà cháu đi đâu?
            - Dạ, một thằng tóc dài, mặc áo chim cò, quần bộ đội, một thằng lớn hơn cháu một chút, trắng trẻo, đeo kính trắng, hai thằng…
            - Biết rồi…anh công nhân thở dài, như nói một mình:
            - Lại là bọn thằng Lạc”giáo sư” ở Huế ra đây mà…
Thằng Toàn có vẻ hy vọng:
            - Chú giúp cháu lấy lại tiền được không ạ?
            - Công an cũng không lấy được nói chi đến chú, bọn này ghê lắm. Mà cháu về đâu?
            - Cháu đi Vinh. Thằng Toàn rầu rĩ.
            - Chú có thể giúp cháu bằng cách gửi cháu ra đó thôi!
            - Dạ, cháu có vé rồi.
            - Thế thì lên tàu đi, tàu sắp chạy rồi đấy!
            Thằng Toàn ủ rũ lên toa. Nó không thể nào vào trong toa được đành đứng ngay chỗ đầu nối giữa hai toa xe mà vẫn nhức tai vì tiếng trẻ con khóc, tiếng tranh cãi nhau về chỗ để hàng, tiếng rao bán thuốc lá, nước chè xanh, quà vặt…của đám hàng rong. Hàng hóa chất nhiều nhưng chủ yếu là những sọt trái cây trứng gà mà trong Nam gọi là ô ma, những bì sắn lát, những bao dừa khô…Con tàu hú còi hai ba lần rồi mới ì ạch lăn bánh. Mới chạy được vài trăm mét lại dừng lại, lại hú còi rồi chạy giật lùi. Không ai hiểu vì sao lại như thế. Thằng Toàn không quan tâm về việc lùi, tiến của đoàn tàu. Với nó, giờ đây thời gian, không gian dường như không có giá trị gì cả, chỉ cơn đói càng lúc càng cồn cào, vô cùng khó chịu mà thôi. Tựa lưng vào những sọt trái cây, nó nhắm mắt lại, hai tay ôm đầu mặc đoàn tàu khi giật, khi lắc, khi làm cho người ta chúi về trước, nghiêng bên phải, ngả bên trái. Mặc kệ, muốn ra sao thì muốn, nó cố ngủ để quên đói nhưng không thể nào ngủ được. Cành cạch…cành cạch…cành cạch…nó đếm theo tiếng bánh sắt lăn qua đoạn nối giữa hai thanh ray. Không ngủ được nó lại nhớ những bữa cơm mẹ nấu. Mùa hè, hễ mẹ đi làm đồng về là thế nào cũng có bát canh cua nấu rau đay hay mồng tơi. Cắn miếng cà pháo muối giòn rụm, húp miếng canh sao ngon đến thế. Hạt cơm gạo chiêm độn khoai lát có vị bùi bùi, beo béo khi nhai chầm chậm. Nhưng mà nghĩ đến cái ăn, nó nhớ nhất miếng kẹo lạc mẹ thưởng cho nó khi làm bài kiểm tra môn toán được điểm mười, nó nhớ mẹ cười mà hai dòng nước mắt cứ chảy dài…Nhớ đến mẹ nó lại hối hận. Mẹ nói học hết cấp ba vào Vĩnh Linh tìm mẹ. Họ hàng bên mẹ không còn ai, làng cũng không còn. Bom đạn chiến tranh ác liệt quá nên người ta tứ tán cả. Hòa bình rồi nhưng đâu phải cứ muốn trở về làng cũ là về được đâu…chú chủ tịch ủy ban nói thế. Có lẽ chỉ khi nó học xong cấp ba thì mẹ nó mới về làng cũ? Giờ mẹ ở đâu, có khổ không? Có biết con đang đi tìm mẹ không?...Nước mắt nó lại trào ra…
            - Ai bánh chưng, trứng luộc đơ…â…y…
Tiếng rao bán hàng rong quái ác làm cơn đói cồn cào mãnh liệt hơn. Khi nghĩ về mẹ, cơn đói dịu đi đôi chút. Nó lấy hai tay bóp bụng. Nó từng nghe người ta nói khi đói bóp bụng thì đỡ đói hơn. Bõng dưng nó ngửi thấy mùi thơm trái ô ma chín. Phải rồi, nó đang dựa lưng vào mấy sọt ô ma. Lúc này trời đã tối, không khí đỡ ngột ngạt hơn, tiếng cãi nhau, tiếng trẻ con khóc dường như thưa hơn. Tay nó sờ soạng những cái lỗ bên hông sọt có những cọng rơm nham nhám. Thọc ngón tay trỏ vào, nó cảm nhận vỏ trái cây lang láng, ấn thêm một chút thấy mềm mềm, ấn thêm tý xíu nữa trái ô ma sẽ lủng. Nó chợt nhớ mẹ từng nói dù có đói đến chết cũng không được ăn cắp. Rút ngón tay ra, nó để vào giữa ngón cái và ngón trỏ bàn tay trái bẻ khớp ngón nghe tiếng kêu răng rắc. Được một lát, nó nghĩ thế nào trong sọt cũng có quả chín nứt. Mà nứt rồi thì bán cho ai. Thế là nó lần mò tìm hết lỗ sọt này đến lỗ sọt khác…mãi đến lỗ thứ chín của cái sọt thứ hai nó mới tìm thấy một quả nứt. Nó móc từng tí một cho vào miệng. Cứ thế, cứ thế, chỉ một chút nữa thôi là nó móc được nửa trái còn lại ra khỏi sọt. Bỗng dưng có tiếng chân chạy rần rật trên nóc tàu, tiếng chửi, tiếng hô cướp…cướp…rồi hình như có tiếng người nhảy xuống đường tàu. Nó đang dỏng tai nghe thì một cái bóng nhảy lên, chưa kịp nhận ra dáng người thì giọng nói nhỏ, gấp gáp, sắc lẹm vang lên:
            - Cho mày cái này, còn cái này thì giữ cho tao!
Khi kịp nhận ra trong tay cầm cái bánh chưng và cái túi vải nhỏ thì người ấy đã nhảy xuống chạy ngược đoàn tàu. Ba bốn cái bóng vừa chửi vừa chạy theo, nó chợt nhận ra trong đám đuổi theo ấy có một kẻ tóc dài mặc áo phông, quần bộ đội… Tàu đang chạy mà  người ấy nhảy lên, nhảy xuống gọn thế, chắc là cướp rồi. Mà cướp của quân ăn cướp sao? Nó vuốt mồ hôi trán, chậc..kệ người ta.
            Nhét cái túi vào túi quần rồi nó bóc bánh. Mẹ nó nói bánh chưng phải gói nhiều lá một chút bánh mới rền. Cái bánh này lá quá nhiều. Có lẽ người ta độn lá để kiếm chút lời. Đưa miếng bánh vào miệng nó lại giật mình, ăn có được không? Mẹ nói ăn, dùng của phi pháp cũng là người phi pháp. Nhưng mà người cho nó có phải người phi pháp không làm sao mà nó biết được. Với lại muốn gói lại cũng không được nữa rồi, lá và lạt đều đã vứt xuống đường tàu…Bụng nó lại cuộn lên, cơn đói không cho nó nghĩ nhiều nữa. Đói, nhưng nó vẫn nhai chầm chậm để thưởng thức vị ngon của bánh. Đói, kéo dài bữa ăn ra âu cũng là cái cách đánh lừa cảm giác, chị Lài con bác nói thế, giờ nó cảm thấy đúng…
            Tàu đến ga Vinh tầm khoảng ba giờ sáng. Thằng Toàn xớ rớ chưa kịp xuống thì bị đạp một cái vào mông.
            - Con mẹ mày, tránh ra để chúng tao đưa hàng xuống. Đứng đấy để ăn cắp hả?!
Bước xuống bờ ke, nó bị nắm tay lôi đi.
            - Đưa cái túi vải cho tao!
Lúc này thằng Toàn mới biết mặt người giao túi. Không hỏi lại, nó đưa cho người ấy. Đút cái túi vải vào túi quần, người đó nói:
            - Vào đây ăn cơm với tao!
Nó bước theo và nó cũng không ngờ sau bữa cơm ấy cuộc đời nó lại có bước ngoặt như thế.
            Lần tay vào túi cầm nắm tiền Sơn Bạch tạng đưa, nó nghĩ nó nợ đại ca, sư phụ và cả những người hành khách…bị mất của nhiều lắm.

           

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

YÊU LÀ...


Anh yêu em bao nhiêu tháng bao nhiêu năm là bấy nhiêu nhung nhớ
Bấy nhiêu lo lắng băn khoăn khắc khoải đợi chờ
Mỗi lần xa nhau là nước mắt chảy trong mơ tràn ra gối chiếc

Nhìn về phương em đi thời gian nối tiếp thời gian càng xa xôi biền biệt
Màu của núi của mây nặng nề hiu hắt u ám nhập nhòa
Ngoài vườn kia chim không kêu hoa không nở sấm động ì ùng không một giọt mưa

Em đừng nghĩ em là em thôi, em là anh nữa đấy
Những kỷ vật trao nhau cũng chỉ là kỷ vật, ước gì vứt đi để anh được bên em
Anh biết rằng lúc ấy trời sẽ xanh chim sẽ hót hoa sẽ nở bên thềm
Giọng nói em là thơ là nhạc anh dạo khúc đàn bằng lặng lẽ ghé môi hôn!...

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

NÓI VỚI EM VỀ NGƯỜI XỨ NGHỆ

         
            Bao nhiêu năm xa quê vẫn con người xứ Nghệ
            Chất giọng chè xanh cà nhút thuốc lào
            Gàn bướng cứ giơ đầu chịu báng
            Nỏ cúi luồn nên không nghĩ trèo cao.

            Rốn bão giông sinh ra người xứ Nghệ
            Thêm nóng gió lào tôi luyện dẻo dai
            Như Tề Thiên trong lò bát quái
            Khắc nghiệt thiên nhiên in dấu ấn hình hài.

            Người xứ Nghệ như địa danh xứ Nghệ
            Những Sông Con – Khe Bố, Cửa Rào
            Cầu đang thông mà gọi là Cầu Cấm
            Dốc thấp tè mà lại nói Dốc Cao!...

            Thương thương lắm con người xứ Nghệ
            Học thâu đêm dù tốn vải lưng dài*
            Con cá gỗ ăn nhiều khát nước
            Mà trọng tài năng hơn hẳn tiền tài.

            Hồn nhiên lắm con người xứ Nghệ
             Có ương gàn có phong thái hào hoa
            Em có dám làm dâu xứ Nghệ
            Thì hãy yêu từ dưa nhút tương cà...
------------------------------- 
     * Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
                                   (Ca dao) 

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

UỐNG RƯỢU CÙNG SƠN NỮ


Một vầng trăng sáng đầu non
Chùm mơ em hái hãy còn tươi xanh
Một làn sương trắng mỏng manh
Tơ tình tiếng suối âm thanh mơ màng.

Rượu ngon xin chớ rót tràn
Bóng trăng lóng lánh ánh vàng thần tiên
Cầu chi đỉnh Giáp non Yên
Này đây là chốn Đào Nguyên thuở nào.

Hồn say bay bổng dạt dào
Cầm mơ muốn cắn... má đào dưới trăng!...

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

THƯ GIÃN (1)


ĐÔI BẠN ĐI SĂN

Hai anh chàng thổ dân cùng nhau đi săn, khi vào rừng họ gặp một con sư tử. cả hai hoảng hồn. Một anh chàng lôi đôi giày thể thao và luống cuống mang vào chân trong khi chúa sơn lâm cứ lùi lũi tiếnvề phía họ. Anh chàng kia thấy thế lắp bắp:
            - Cậu…cậu làm vậy cũng đâu…chạy nhanh hơn…nnn…nó
            - Nhưng…tớ sẽ chạy nhanh hơn cậu.

ĐÃ BẢO LÀ ĐIÊN
           
            Cú điện thoại gọi đến đồn cảnh sát: “Alô, có một người điên vừa trốn khỏi trại tâm thần!”
            - Ông có thể tả hình dáng người ấy được không?
            - Trạc 40 tuổi, đầu hói, quần áo sọc, tóc tai bù xù.
            - Ông ta bị hói?
            - Đúng vậy!
            - Thế thì làm sao mà tóc tai bù xù được?
            - Thì đã bảo là hắn là điên mà!

MỘNG DU

            Một người bị bệnh mộng du đang ngủ bỗng bật dậy chạy xuống bếp lấy một con dao bầu. Cả nhà anh ta không dám ngăn cản vì sợ nguy hiểm đến tính mạng. Anh ta đi sờ đầu từng người rồi sau đó cất dao vào chỗ cũ và đi ngủ tiếp.
            Sáng hôm sau, mọi người xúm quang anh ta hỏi tối hôm qua mơ thấy gì mà lại đi sờ đầu từng người như vậy? Anh ta trả lời:
            - Tôi mơ thất lạc vào một ruộng dưa hấu, nhưng sờ mãi mà không được một quả nào chín cả
          Cả nhà ??!!