Thứ Bảy, 22 tháng 9, 2012

Nhớ

Anh ở Nam còn em về Bắc
Khoảng cách xa xôi, nỗi nhớ ngược chiều
Tay cầm hái cho tròn mùa gặt
Bão lũ đi qua bòn mót được bao nhiêu.

Anh thương em bàn tay bé nhỏ
Việc nhà nông nắng gió mùa hè
Bụi lạc óp sao mà dai đến thế
Mấy gánh khoai sùng còn tấp dưới chân đê.

Trời bất chợt mưa khi đang còn nắng
Lúa tuốt vừa xong rơm chưa kịp gánh về
Đàn cò trắng bay tìm chỗ nấp
Bao nhiêu người nặng gánh đường quê.

Anh nhớ lắm nụ cười "thôn nữ"
Giọng dịu dàng và ánh mắt trong veo
Ước sẻ chia việc em làm nặng nhọc
Mà điện hỏi thăm: "thứ mấy em vào"!

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

CHÉN TRÀ ĐÊM THU

Dạ bán tam bôi tửu
Bình minh sổ trản trà
Mỗi nhật cứ như thử
Lương y bất đáo gia.
Ẩm thực điều độ, đúng cách thì "Lương y bất đáo gia". Có thể nói kinh nghiệm sống của cha ông qua bài thơ trên là chuẩn mực. Còn gì sảng khoái, tỉnh táo bằng mỗi sáng mai thức dậy, trước khi đi làm việc uống một tuần trà. Nhưng đôi khi, trong cuộc sống cần "ngược" một tí, như một hòn sỏi trên mặt đường phẳng lì, tạo điểm nhấn, bớt chút buồn tẻ đời thường trầm lặng, an phận vậy.
     Đêm trung thu năm ngoái, anh Tuấn mời tôi đến nhà uống trà thưởng trăng. Anh nói:
     - Rượu, bia, mồi nhậu không thiếu nhưng hôm nay mình uống trà thưởng trăng để học đòi cha ông xưa nhé.
Tiệc trà hôm ấy ngoài tôi, Hưng còn có một cô gái chừng độ hai bảy, hai tám tuổi.
     - Giới thiệu với Diệp Anh, đây là anh Thắng, thầy giáo cấp III, còn đây là anh Hưng - kỹ sư nông nghiệp, ngành Chế biến và bảo quản nông sản, thực phẩm.
Diệp Anh cúi đầu chào chúng tôi với nụ cười thân thiện. Sau này tôi mới biết cô tốt nghiệp Đại học Du lịch, còn lúc đó anh Tuấn giới thiệu cô là cô chủ quán trà Sào Nam ở thành phố Qui Nhơn.
     Bàn trà được kê cạnh hòn non bộ, dưới tán cây vú sữa. Phía tay phải Diệp Anh là là hỏa lò than hoa cháy tí tách với siêu nước đang sôi.
     Diệp Anh tráng bình trà, đổ nước sôi vào tô lớn, dùng kẹp gỗ kẹp từng chiếc chén nhẹ nhàng đặt vào tô. Kế đến, cô mở nắp hộp trà được tiện bằng tre vẽ tranh sơn mài rất khéo, dùng muỗng gỗ múc trà cho vào ấm, đặt ngay ngắn giữa khay rồi tráng  chiếc ấm sứ Hải Dương, chuyên nước sôi vào. Đặt siêu nước lên hỏa lò, dùng gáo dừa đổ thêm nước, xong xuôi cô dùng ấm Hải Dương chế vào ấm trà. Khoảng cách hai ấm độ một gang tay.
     - Cao sơn đường thủy hay trường thủy nhỉ, tôi quên mất? Anh Tuấn hỏi. Diệp Anh nhẹ nhàng:
     - Theo em hiểu là trường thủy anh à.
     Lắc ấm theo chiều kim đồng hồ ba lượt, đổ hết nước, lại chuyên nước từ ấm Hải Dương vào, lần này khoảng cách giữa hai ấm gần hơn.
     - Hạ sơn nhập thủy. Hưng nói mà mắt không rời động tác của Diệp Anh.
     Đậy nắp, chế nước sôi lên ấm, cô nói:
     - Thú ẩm thực của cha ông ta rất tinh tế phải không các anh? Thưởng trà rất bài bản, tuần tự, lớp lang.
     - Cũng là uống cả, nhưng uống đúng cách không dành cho kẻ phàm phu tục tử.
     Anh Tuấn đề nghị Diệp Anh giải thích ý nghĩa từng động tác pha trà theo bài bản cha ông xưa. Dùng kẹp gỗ nhấc từng cái chén, thong thả lau khô, đặt cạnh nhau theo hình bán nguyệt, tuần tự rót nhanh từ trái qua phải rồi rót điểm giọt từ phải sang trái, đều đặn 2/3 chén. Cô mời chúng tôi dùng trà. Xong tuần trà thứ nhất, châm nước xong, Diệp Anh nhẹ nhàng giải thích:
     - Theo em được biết qua bài giảng ở trường và qua các tác phẩm của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Tuân, Vương Hồng Sến thì động tác đầu tiên múc trà cho vào ấm là: "Ngọc diệp hồi cung" có nghĩa là " Lá ngọc về cung". Động tác rót nước vào ấm, tráng rồi đổ đi là "Cao sơn trường thủy", nghĩa là "Núi cao sông dài". Khi rót nước có độ cao mục đích là làm dội trà trong ấm rồi lắc đều để bong tập chất, bụi bẩn bám vào trà. Chế nước vào để trà "chín" là Hạ sơn nhập thủy", có nghĩa "Xuống núi nhập sông". Vì sao không chế nước đang sôi trực tiếp vào trà? Nếu chế như thế thì trà bị "cháy". Nhiệt độ thích hợp là 80 - 85 độ C. Mục đích chế nước lên ấm là giữ nhiệt, pha trà vào mùa hè không cần thao tác này. Khi rót nhanh, không nhấc tay từ trái qua phải gọi là: "Quan Công tuần thành", tiếp đến rót điểm giọt từ phải qua trái là: "Hàn Tín điểm binh". Rót như vậy đều vị trà và độ nóng cho các chén. Khi thưởng trà dùng ngón tay trỏ, giữa và ngón cái bàn tay trái nâng chén trà lên, đặt vào lòng bàn tay phải, động tác này có tên "Tam long giá ngọc", nghĩa là "Ba con rồng đỡ ngọc". Nâng chén trà ngang cằm, đưa từ trái sang phải để thưởng thức mùi hương trước khi nhấm nháp là "Du sơn lãm thủy", nghĩa là "Chơi núi ngắm sông". Tại sao lại đưa từ trái sang phải ngang cằm? Làm như thế là đặt chén trà vào thế động, thúc tỏa mùi hương nhanh hơn . . .
     Không gian tĩnh lặng, ánh trăng trong, dịu. Anh Tuấn, Hưng như nuốt từng lời cô gái. Diệp Anh rót tuần trà thứ hai. Anh Tuấn vỗ vai tôi:
     - Chết, tí nữa quên, chờ tôi chút.
     Anh trở lại bàn với chiếc dĩa sứ xếp đầy những viên cuội bọc mạch nha. Đưa cho chúng tôi mỗi người một đôi đũa, anh mời:
     - Các bạn thưởng thức "tác phẩm" của mình đi.
Gắp một viên cuội cho vào miệng, một vị ngọt thanh quyện mùi hương hoa hồng thoang thoảng. Không biết anh nhặt những viên cuội ở đâu mà trắng, tròn, đều đến thế.
     - Lẽ ra phải ủ bằng phong lan cho đúng bài bản nhưng mình làm lồng bàn giấy hơi nhỏ, chỉ chứa được một giò lan, sợ không đủ thấm. Còn cắt hoa để ủ thì tiếc quá nên tớ ủ bằng hoa hồng. Với lại, hương hoa hồng đậm, dễ thấm hơn, làm lần đầu để rút kinh nghiệm . . .
     Có lẽ thay đổi vị giác nên tuần trà thứ hai tôi cảm thấy thấm thía hơn. Hương trà thơm dịu, chén trà dưới ánh trăng lóng lánh, vị chát dịu ở đầu lưỡi, ngòn ngọt nơi cổ họng. Chưa bao giờ tôi được uống trà ngon như thế. Hỏi anh trà gì, anh cười:
     - Trà này là của Diệp Anh, còn mình chỉ đăng cai " sân bãi" thôi.
     - Có lẽ đây là trà Tàu, Hưng nói, mấy loại trà Long Tĩnh của Chiết Giang, Vân Sơn ở Quảng Tây, Thiết quan Âm ở Tây Thục tôi đã được uống, không biết đây có phải là Bạch Mao Hầu hay Trảm Mã chăng?
Diệp Anh cười:
     - Quán trà của em chỉ bán trà Việt thôi, đây là trà Tân Cương - Thái Nguyên, có tên là Bạch Hạc, dân sành trà cho là ngon nhất Việt Nam. "Bạch Hạc Trà" được sản xuất ở xóm Lam Sơn, dưới chân núi Guộc. Ngoài ra, trà Việt mình còn nổi tiếng với trà shan tuyết Suối Giàng, Cao Bồ - Hà Giang. Trà shan tuyết Hà Giang quí vì hiếm, mọc tự nhiên trên núi cao. Chè Cầu Đất - Lâm Đồng ngon nhưng chế biến kiểu công nghiệp nên mất đi ít nhiều hương vị. 
     Quay sang Hưng, Diệp Anh tiếp:
     - Không phải cái gì ngoại cũng tốt phải không anh? Em thì chỉ muốn khám phá được càng nhiều càng tốt nét đẹp văn hóa Việt.
Hưng cười:
     - Trà Việt, thưởng trà theo văn hóa Việt, còn bộ đồ trà này cũng là Việt chứ, anh Tuấn?
     - "Thứ nhất Thế Đức gan gà, Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần", trông thế chứ Chu Đậu chính cống đấy. Cái thời ấm Tử sa Mạnh Thần cuối Minh đầu Thanh, ấm Tích bao Thế Đức, Lưu Bội thời Gia Khánh, Đạo Quang chỉ được chuộng ở Việt Nam, còn bán qua Nhật bản, Mã Lai, In đô nê xi a không có cửa so với Chu Đậu mình.Về cái khoản gốm sứ ông Thắng là chuyên gia đấy.
   Nghe anh Tuấn nói, Diệp Anh quay sang hỏi tôi:
     - Em không rõ có khi gọi chén trà, có khi gọi tách trà, không biết có khác nhau không? Em chưa được dùng những bộ đồ trà như anh Tuấn nói, nó có điểm gì khác với bộ đồ trà Chu Đậu của mình?
     - Chén là loại không có quai, tách là loại có quai. Do để đáp ứng nhu cầu, thói quen người Châu Âu người ta chế ra để xuất khẩu. Thực ra bộ đồ trà Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần dùng chế trà không hơn gì ấm Chu Đậu. Các loại ấm đó hình thức cầu kỳ, sắc sảo hơn tý chút mà thôi. Phần lớn các ấm trà nói trên ở Việt Nam là đồ giả cổ.
     - Như thế nào là bộ ấm tốt? Hưng hỏi.
     - Đơn giản thôi, khi mở nắp, lật úp thì miệng vòi, miệng ấm, đỉnh cao nhất của quai đều nằm trên một mặt phẳng. Đậy nắp lại, để trong chậu nước ấm nổi rất thăng bằng. Đổ nước đầy, bịt lỗ thông hơi trên nắp rót nước không chảy, không bịt lỗ thông hơi thì nước chảy đều. Cầm quai ấm, mở nắp, búng vào bụng ấm nghe tiếng "bung" trong, rõ . . .
Anh Tuấn tham gia:
     - Cứ như ông Thắng nói hôm nào kiểm tra bộ đồ trà Thế Đức của anh bạn mình xem có đúng không. Bộ đồ trà này chỉ chưng thôi. Nghe đâu có từ thời ông cố. Theo anh bạn tôi không dùng pha trà nữa vì ông cố, bạn trà ông cố dùng những bộ đồ trà như thế đều chết trẻ, chứng bệnh rất giống nhau: xuất huyết bao tử.
Hưng nói:
     - Không biết trong ấm có chất độc gì không thì chưa biết, nhưng nói đến ngành sứ tôi nghe nói Trung Quốc tiếng là giúp ta nhưng kỳ thực lại chơi ta như vụ nhà máy sứ Hải Dương.
     - Chuyện thế nào anh? Diệp Anh hỏi.
     - Thì Trung Quốc giúp ta xây dựng nhà máy sứ Hải Dương, khánh thành vào ngày Quốc khánh  2/9/1960. Mẻ sứ đầu tiên do chuyên gia Trung Quốc đứng lò rất đẹp. Đến khi bàn giao, kỹ sư ta vận hành lò nghiêm ngặt, đúng quy trình nhưng sản phẩm hỏng rất nhiều, bình chén méo, men dồn cục . . .Phải mất một thời gian sau ta mới "khắc chế" được. Có gì đâu, chuyên gia Trung Quốc định vị xây dựng nhà máy gần đường xe lửa, khi lò đang nung thì tàu chạy qua cộng hưởng rung làm làm hỏng sản phẩm. Mẻ sứ đầu tiên không hư hại chút nào là do họ nung tránh giờ tàu chạy; đến lúc tàu chạy ngang qua thì  sứ đã "chín". Còn ta, 7 giờ công nhân vào ca, nung lò đúng lúc tàu chạy nên hư hại nhiều. Phát hiện điều này, ông phó Giám đốc kỹ thuật nhà máy cho đào một con hào song song với đường tàu, triệt tiêu độ rung nên tàu có chạy thế nào đi chăng nữa vẫn không hỏng sản phẩm. . . .
     Tiếng trống múa lân của đám trẻ con cuối xóm vọng lại nghe như những tràng pháo tay cho câu chuyện Hưng kể. Trời mát dịu, sương đọng mặt lá vú sữa lấp lánh dưới ánh trăng như  mắt trẻ thơ. Diệp Anh đổ bã, pha ấm trà sen. Cô nói:
     - Loại trà này không thể dùng chiêu thức "Cao sơn trường thủy", vì nếu làm như vậy mất hết mùi hương.
     Cô nói đúng, thứ chè mạn miền Tây Bắc chuyên chở về Hà Nội theo đường sông, để ba, bốn năm cho nhạt mùi chè, sau đó mới ướp gạo sen. Phải một ngàn đến ngàn hai bông sen mới ủ được một ki lô gam chè. Do đó, ngay cả đại gia thứ thiệt cũng ít khi dùng loại trà này thường xuyên.
     Nghề chơi cũng lắm công phu. Để có được bữa tiệc trà hôm đó anh Tuấn phải lên Hầm Hô lấy nước suối. Anh sợ pha nước giếng nhà hỏng trà quý của Diệp Anh. Và chuyện anh quen cô chủ quán Sào Nam cũng là duyên kỳ ngộ.
     Một năm đã qua, chén trà đêm thu năm trước như vẫn chát dịu đầu lưỡi, ngòn ngọt nơi cổ họng, thoang thoảng hương sen trong tôi. Diệp Anh có việc đi xa, cô hẹn chúng tôi uống trà vào đêm Nguyên tiêu năm mới. Hỏi cô vì sao lấy tên quán "Sào Nam", cô cười: "Hồ mã tê sóc phong / Việt điểu sào nam chí" 
( Ngựa Hồ hí gió bắc; Chim Việt đậu cành nam), mong muốn của em là người Việt ta hãy tự hào về văn hóa Việt . . .Chén trà thu đêm ấy cô pha, tôi nghĩ dó là trà đạo Việt?
    

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2012

Vô đề


                                                      Bị lừa lọc mới biết mình khờ dại
                                                      Trải đắng cay mới thấm thía ngọt bùi,
                                                      Sống là cho hạnh phúc nhân đôi
                                                      Biết tha thứ đời mới vui trọn vẹn !      

Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012

THÚ VỊ TIẾNG TA

1. Đang lai rai ở trại cá chú Năm Ngọc nghe Hường ( cháu của Hồ Kim Lân, tên gọi ở nhà là Mốc) kể chuyện quậy thời học trò thì Phạm Thái Hòa cùng Bảy Bình đến.
     - Đi đám cưới có vui không anh Năm?
     - Vui viếc gì. Nốc cho lắm vào rồi cãi lộn, ghét quá, tôi kéo Bảy Bình ra đây.
Nghe Năm Hòa nói, Mốc chuyển đề tài:
    - Vui vẻ chứ sao lại vui viếc hả thầy?
    - Cái gì thêm "iếc" là có chiều hướng xấu, không bằng lòng . . .
    - Đúng rồi, ví như "làm liếc", "yêu iếc", "nói niếc". . .Hồ Kim Lân bổ sung. Phạm Quang Nghiêm phát hiện:
    - "Nói niếc" thì viết được, chứ "yêu iếc" viết như thế nào? Không ngờ Năm Hòa lên tiếng:
    - Hai chữ cùng phát âm "i" thì bỏ đi một chữ. không thể viết "y" rồi cộng thêm "iếc" được.
    - Nếu như thêm "iếc" là có xu hướng xấu thì thêm gì là có xu hướng đẹp hả thầy? Mốc hỏi.
Tôi trả lời là thêm "ắn". Ví dụ "đỏ đắn", "xinh xắn", "thẳng thắn", "vuông vắn", "ngay ngắn". . .  

2. Câu chuyện về tiếng ta đến cao trào, đề tài chuyển sang từ láy không biết từ lúc nào. Bia hết, Phạm Quang Nghiêm "sáng kiến":
    - Thầy Thắng làm trọng tài, còn mỗi người đưa ra một từ láy tư, ai không đưa ra được phải phạt mua bốn lon Heineken. Phạm Thái Hòa lên tiếng:
    - Tôi chịu thua một thùng nhưng đề xuất ngược lại là ai không tìm được thì phải uống thêm một lon ngoài ly tua. Tất cả nhất trí, bắt đầu từ Mốc:
    - Lanh cha lanh chanh. Bảy Bình tiếp theo:
    - Lừ đà lừ đừ.
Phạm Quang Ngiêm nói.
    - Đủng đà đủng đỉnh. Hồ Kim Lân cười cười . . .Cứ như thế xoay tua, nào là Xí xa xí xọn, Lủng cà lủng củng, Vớ va vớ vẩn. . .
Nhẩm theo những ví dụ đưa ra, tôi chợt nghĩ đến cấu tạo từ láy tư. Có phải bắt đầu từ từ láy đôi, lấy phụ âm đầu của chữ thứ hai cộng thêm "a" hoặc "à" là có được từ láy tư; hai chữ cuối của từ láy tư chính là từ láy đôi, cái gốc của từ láy tư Muốn khẳng định được điều này chắc chắn phải khảo sát, đối chiếu nhiều. Cảm nhận ban đầu của tôi nếu sai vì chưa có căn cứ xác đáng mong bạn đọc đừng chế giễu.

3. Đang lan man với cấu tạo từ láy, sự phong phú, đa dạng, hàm súc của tiếng ta với nghệ thuật điệp, đối, chơi chữ, nói lái . . .giật mình khi Mốc ấn vào tay tôi ly bia còn Hồ Kim Lân tuyên bố:
    - Hai tua rồi chưa phạt được ai, giờ chơi luôn từ láy ba, bắt đầu từ tôi: "lơ tơ mơ". Chuyển ly sang cho Nghiêm, Bảy Bình lên tiếng: "khỏe khòe khoe".Từ Phạm Quang Nghiêm trở đi đều bị phạt, đến lượt tôi, Phạm Thái Hòa cười cười: 
    - Thầy có chịu phạt không?
Tôi cười: - Bốn tua nữa tôi cũng không bị phạt.
Nói đến từ láy ba, cách đây hơn 30 năm, anh Nguyễn Khắc Luận sau đợt tham quan Hà Nội về có đọc cho tôi nghe bài thơ của một cậu bé năm tuổi về "Cầu Thê Húc". Bài thơ bốn câu, câu nào cũng sử dụng từ láy ba rất đúng với cảm xúc, tâm trạng lứa tuổi nhi đồng. Tiếc rằng tôi không biết tên tác giả nhưng bài thơ mãi mãi lung linh trong tôi về vẻ đẹp tiếng ta:
    Cầu Thê Húc đỏ đỏ đỏ
    Cây ven hồ xanh xanh xanh
    Đứng trên cầu thích thích thích
    Nhìn xuống nước sợ sợ sợ.
Nghe xong bài thơ tôi đọc, Kim Lân nâng ly, uống cạn một hơi, vẻ mặt hân hoan:
    - Tiếng ta thú vị thật!

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

CHỚM THU

Đầu Thu - mới chớm nắng vàng
Đậu trên những tán lá bàng đậm xanh,
Tiếng ve còn sót trên cành
Ráng chiều phớt tím mong manh cuối trời.
Nao lòng ngọn khói chơi vơi
Mùi thơm cơm mới nhớ người chốn xa,
Trăng nương cành liễu la đà
Rình xem quỳnh nở cánh hoa trắng ngần.

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

CÓ NHẤT THIẾT PHẢI LÀ ĐẠI HỌC?

1. - Đố các ông mùa nào ảnh hưởng tới xã hội nhiều nhất? Hoan "bọ ngựa" hỏi sau khi hết ly bia đầu tiên.
- Mùa hạ, vì nó nóng quá, mọi người đi ra đường che kín từ đầu đến chân, giống như một quốc gia theo đạo Hồi. Đức râu xoa cằm trả lời.
- Cậu Hoan giờ cũng láu nhé, đố mẹo cơ đấy. Anh Tuấn cười cười. Theo mình, đó là mùa thi đại học. Này nhé, gia đình có con cháu thi thì phấp phỏng lo âu, có người cầu cúng khắp nơi. Trước và sau ba bốn ngày thi xe cộ vận tải hành khách lên giá ào ào chẳng khác gì dịp tết nguyên đán. Sĩ tử, phụ huynh phấp phỏng chờ đợi kết quả sau kỳ thi cả tháng. . .
     Tôi nghí anh Tuấn nói đúng. Làm công tác quản lý giáo dục nên tôi hiểu trên 50% học sinh không có khả năng thi vào đại học nhưng vẫn dự thi một đến hai trường, giống như việc thi vào đại học là cứu cánh duy nhất. Hơn 20 năm làm công tác quản lý giáo dục tôi chưa hề thấy em nào mùa tuyển sinh đăng ký học nghề hay đăng ký tuyển sinh vào một trường trung cấp nào đó trong khi xã hội rất cần thợ, kỹ thuật viên có tay nghề đã qua đào tạo.
     Việc "quyết vào đại học" là tâm lý chung của xã hội bắt nguồn từ chữ "sĩ". Ở đây tôi muốn nói đến sĩ diện chứ không phải chữ sĩ ở khía cạnh hiểu biết. Gia đình có con đỗ đại học trở nên "danh giá" hơn so với phần còn lại. Có nơi thành phong trào. Cách đây hơn 20 năm, ở xã Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An có câu đối tự hào về sự đỗ đạt: "Sáng khoai, trưa khoai, khoai ba bữa / Cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà".
     Thời ấy, đỗ đại học đương nhiên ra trường có việc làm, và đương nhiên thoát khỏi cảnh cơ cực, nghèo khó của nghề làm nông cho dù cuộc sống không mấy sung túc. Bây giờ, thời kinh tế thị trường nhưng tâm lý của thời bao cấp hình như vẫn còn nguyên giá trị. Nhiều người nghĩ rằng có tấm bằng đại học, vào biên chế nhà nước, sau này về hưu có lương, cuộc sống về già được đảm bảo. . .Cho nên, nhiều gia đình lo nuôi con có tấm bằng đại học rồi lại lo "chạy chọt" có khi đến mấy trăm triệu đồng để có một suất biên chế nhà nước. Tiêu cực từ đó mà ra, sức ì của xã hội cũng ở chỗ đó. Với trí tuệ "đại học" và số vốn mấy trăm triệu mà sao các ông cử, bà cử không tự lập nghiệp được? Xin thưa, giáo dục đại học ở ta thiên về lý thuyết, kỹ năng thực hành kém. Không xuất phát từ thực tế cuộc sống, thực tế lao động, chỉ với một mớ lý thuyết thì làm gì có sáng tạo, làm gì có năng động.
2. Anh Tuấn bảo tôi:
- Vừa rồi, có hai cử nhân đến làm việc chỗ mình. Nhận họ làm mà không vui một chút nào. Một cậu là cháu một quan chức gửi trong lúc chờ sắp chỗ. Không nhận không được. Học đại học theo kiểu liên kết do Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh mở, bằng giỏi hẳn hoi thế mà đọc bản vẽ thua mấy tay đội trưởng của mình.
     Còn một cậu học Đại học Nông lâm, nhà nghèo, ra trường chẳng xin được việc ở đâu cả nên đành xin mình làm công nhân. Thật tội, làm công nhân thì phải ăn lương công nhân thôi . . .
     Trường hợp thứ hai anh Tuấn nói tôi biết. Em là con thứ hai trong một gia đình có 6 anh chị em, mồ côi cha. Nhà nghèo, may nhờ chính sách cho vay để học đại học của nhà nước cộng với quyết tâm của cả dòng họ em mới được học đại học. Học xong phải trả nợ ngân hàng. Không xin được việc làm đúng với chuyên ngành đào tạo, đành phải đi làm thợ.Chủ nhật tuần trước, em tới nhà thăm tôi: "Biết như thế này học xong 12 em đi học công nhân kỹ thuật sướng hơn. Học nghề không phải đóng học phí, thời gian lại ngắn, đỡ tốn tiền gia đình". Ba năm làm công nhân, với tính tình  em, tôi tin em có một số tiền kha khá. Đằng này, mất ba năm nữa chắc gì đã trả hết nợ ngân hàng nói chi đến chuyện giúp gia đình.
     Cũng theo lời em kể, mấy đứa bạn cùng lớp thời phổ thông, tốt nghiệp đại học không xin được việc làm, sợ "quê" nên không dám về quê, bám trụ thành phố, đứa phụ việc nhà hàng, đứa làm tiếp thị, may mắn hơn là làm nhân viên bán xe máy. Chao ôi! Cái nghề phổ thông lại sử dụng lao động cử nhân, có nước nào "sang" như Việt Nam không?
3. "Ôn cố tri tân", Đức râu "hoài cổ":
- Thời ông Thắng và em thi đỗ đại học đúng nghĩa vượt vũ môn. Mỗi học sinh chỉ được dự thi một trường, đại học thì khỏi cao đẳng. Tính đi tính lại cả nước có bao nhiêu trường đại học đâu. Tỷ lệ chọi vì thế rất cao. Tự hào thật nhưng cuộc sống sinh viên hồi đó quá đói, quá thiếu thốn. Đói quá nên ăn cái gì cũng ngon. Mười sáu kg lương thực thì độn hết mười một kg. Cái gì cũng thiếu nên rốt cuộc không biết thiếu cái gì. . .Chục năm gần đây trường đại học mọc lên như nấm sau mưa.
Anh Tuấn cười:
- Quy luật thị trường mà. Thời nay kinh doanh đào tạo cử nhân là có lãi nhất. người ta đâu cần biết số phận của sinh viên ra sao sau khi cầm mảnh bằng tốt nghiệp.
     Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học có việc làm đúng chuyên ngành có được bao nhiêu? Trong một lần tư vấn mùa thi ở trường tôi, một cán bộ tuyển sinh ở trường đại học X dõng dạc trả lời câu hỏi của một em học sinh khối 12: "Tỷ lệ có việc làm của trường X sau tốt nghiệp là 98%". Tôi giật nẩy người nhưng không thể cải chính ngay lúc đó vì trường đại học X khi đó mới thành lập có 2 năm (!), còn 2 năm nữa mới có học sinh tốt nghiệp khóa đầu tiên sao biết trước sau khi tốt nghệp có 98% có việc làm? Hay là lại lao động phổ thông với tấm bằng đại học? Giờ đây, ngẫm lại tôi thấy trường nào quảng bá nhiều nhất, tích cực tư vấn mùa thi nhiều nhất thì trường đó kết quả đào tạo lại có vấn đề nhất.
     Những học sinh ưu tú bậc THPT mới đỗ vào các trường có danh tiếng. Nhưng khi cầm tấm bằng đại học chính quy ấy đi xin việc có khi không bằng mảnh bằng đại học hệ tại chức, từ xa. Thành phố Đà Nẵng mấy năm trước đây đưa ra quyết định chỉ tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy thì một số báo chí phê phán "không đúng luật", bởi vì, đã tốt nghiệp đại học hệ gì cũng có giá trị như nhau (!). Nói thế là cào bằng tất cả, tôi nghĩ người viết bài báo ấy có khi là chủ nhân của mảnh bằng tại chức hay từ xa cũng nên. Có lẽ, xuất phát từ hiện thực cuộc sống về chuyện xin việc làm, người ta đúc kết thành câu "ranh ngôn": " Thứ nhất tiền tệ, thứ nhì hậu duệ, thứ ba quan hệ, thứ tư trí tuệ".
4. Một tín hiệu đáng mừng là Luật Giáo dục đại học đã ra đời; việc chấn chỉnh, rút chỉ tiêu tuyển sinh của một vài trường đại học được thực hiện. Giáo dục đại học rồi sẽ đi vào nề nếp, đáp ứng nhu cầu xã hội, tôi tin thế.
     Tuy nhiên, việc cần làm ngay trong giáo dục THPT là phải chỉ cho các em và phụ huynh thấy không phải vào đại học là cứu cánh duy nhất cho cuộc đời. Có biết bao nhiêu người sáng chế phát minh khoa học làm thay đổi cuộc sống không có tấm bằng đại học và có biết bao nhiêu người không có bằng đại học mà rất giàu có được xã hội tôn trọng, ngưỡng mộ. . .
     Nâng cốc chia tay, anh Tuấn nói:
- Hẹn dịp khác bàn sâu hơn về vấn đề này. Nói chuyện nãy giờ tôi chợt nhớ câu chuyện ngụ ngôn Trung Quốc dến nay vẫn còn nguyên giá trị: " Chu Bình Man học thuật giết rồng của Chi Li. Ba năm khánh kiệt cả gia sản, có đến nghìn vàng. Thành tài, không biết dùng làm gì cả".

Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012

ĐỂ CÓ NHỮNG TẤM HUY CHƯƠNG OLYMPIC

                                                             Nữ võ sĩ Trần Hiếu Ngân

Năm 2000, tại Sydney, nữ võ sĩ  Taekwondo Trần Hiếu Ngân đã xuất sắc giành tấm huy chương bạc Olympic, tấm huy chương đầu tiên của ngành thể thao Việt Nam.Và từ đó đến nay, đã 3 kỳ Olympic trôi qua, chúng ta chưa có thêm một tấm huy chương nào nữa, cho dù trước những trận đấu lớn nhiều chuyên gia, nhà báo nhận định vận động viên Việt Nam có những người ở trong tốp tranh chấp huy chương.
     Trong thời gian dạy Taekwondo ở Trường cấp II-III Phan Chu Trinh ( Xuân Lộc, Tx Sông Cầu, Phú Yên , cũng là quê ngoại Trần Hiếu Ngân) từ năm 2008 - 2010, võ sư Nguyễn Ngọc Hùng, thầy của võ sĩ Trần Hiếu Ngân rất tự hào khi nói về học trò cưng: "Hiếu Ngân rất đam mê võ thuật, có thể lực tốt vì vừa tích cực tập luyện võ thuật vừa lao động giúp gia đình sản xuất bánh kẹo, một công việc đòi hỏi phải có sức khỏe. Hiếu Ngân dịu dàng, ít nói nhưng trong các trận đấu, kể cả đấu tập, rất dũng mãnh, thông minh, cách đánh biến ảo, linh hoạt. Bao giờ cũng vậy, sau mỗi trận đấu đều cùng bạn bè, huấn luyện viên phân tích cái hay, cái dở, do đó Hiếu Ngân trưởng thành trên mọi phương diện". Tôi rất tâm đắc về câu nói của thầy khi tàn câu chuyện: "Võ thuật nói riêng, thể thao nói chung khi đạt tới đỉnh cao thì trở thành nghệ thuật. Chiến thắng trong thể thao, yếu tố tiên quyết nhất vẫn là trí tuệ".
     Olympic London 2012, lực sĩ cử tạ Trần Lê Quốc Toàn là niềm hy vọng huy chương của thể thao Việt Nam. Thế nhưng niềm hy vọng ấy lại trở thành nỗi thất vọng. Nếu không sai sót, theo lời Toàn, thì anh "chạm tay vào chiếc huy chương bạc". Lịch sử không có chữ "nếu". Chúng ta không trách Toàn, anh đã làm hết khả năng của mình. nhưng đằng sau thất bại của anh, vai trò huấn luyện viên ở đâu khi đối thủ của anh chưa ai khởi động anh đã khởi động, lại khởi động quá nhiều mất sức một cách không cần thiết? Rồi việc đánh giá đối thủ phiến diện, không lường hết khả năng của họ . . .Vận động viên Triều Tiên Yun Choil Om giành được huy chương vàng ở hạng cân của Toàn có sự tiến bộ vượt bậc khi nâng trọng lượng lên đến 26 kg so với một năm trước đó. Trả lời phỏng vấn báo chí anh nói có được thành tích ấy là khát khao chiến thắng khi được vinh dự đại diện cho màu cờ sắc áo tổ quốc.
     Đấu trường thể thao Olympic còn là đấu trường ngoại giao và chính trị. Mọi sự việc lớn, nhỏ đều được thông tin khắp thế giới; có khi những câu chuyện bên lề lại ảnh hưởng tới hình ảnh của  quốc gia, của ngành sản xuất kinh doanh nào đó. Còn nhớ Olympic Bắc Kinh 2008, trước bao vận động viên, nhà báo trên thế giới Trung Quốc đã tiêu hủy một số lương rất lớn chè đen Việt Nam mà theo họ là chè bẩn. Nhưng chính loại chè đó, thương lái Trung Quốc hướng dẫn cho các hộ cá thể các tỉnh miền núi phía Bắc sản xuất rồi mua với giá cao. Sau vụ tiêu hủy ấy, ngành chè Việt Nam lao đao khốn khó trong việc xuất khẩu, thiệt hại về kinh tế không biết bao nhiêu mà tính.
     Chúng ta biết bất cứ sự thành công nào muốn bền vững phải có nền tảng tốt. Học sinh Việt Nam dự thi Toán học Olympic quốc tế thường đứng trong tốp 10. Việc giành được huy chương vàng hầu như năm nào cũng có. Thành công ấy khá bền vững vì chúng ta có nền tảng tốt. Đó là ý thức học tập của học sinh, sự chăm lo của phụ huynh, của ngành giáo dục, của các cấp lãnh đạo và của . . .nhu cầu xã hội khi phần lớn các ngành học đại học, cao đẳng khi thi tuyển đều thi môn toán. Trái lại, bộ môn thể dục trong nhà trường ít được quan tâm, nhiều trường học không tổ chức dạy dỗ bộ môn thể dục đến nơi đến chốn. Mấy năm trước đây giáo viên thể dục thiếu, nhà trường cử những thầy giáo "biết thể dục một chút" đứng lớp. Mục đích là cân bằng mặt bằng lao động tránh dư tiết và 'dạy đầy đủ các bộ môn".Thể dục thể thao động tác sai thì làm gì có thành tích, thậm chí còn gây hại cho người luyện tập. Như thế, thà đừng dạy còn hơn.
     Việc tổ chức Hội khỏe Phù Đổng cấp trường nhiều lúc tổ chức lấy lệ, cho có để khi báo cáo tổng kết năm học đã "hoàn thành chỉ tiêu đề ra". Thậm chí, có hiệu trưởng tuyên bố: "Tham dự Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh có huy chương thì đi, không có thì thôi"(!) Các bộ môn khác tham gia kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh chỉ cần đạt một số điểm nhất định là có giải. Giải nhất có khi tới cả chục em, còn giải khuyến khích thì khỏi nói. Trong khi đó giải cho bộ môn thể thao chỉ có một giải nhất, một giải nhì, một giải ba và không bao giờ có giải khuyến khích!
     Một khía cạnh khác là cơ sở vật chất để phục vụ cho thể thao học đường quá thiếu thốn và ít được quan tâm. Thử hỏi toàn quốc có có bao nhiêu trường THPT có sân vận động, bể bơi, nhà thi đấu đa chức năng? Quĩ đất dành cho thể thao học đường quá ít trong khi quĩ đất dành cho môn thể thao "quí tộc" - sân golf lại quá nhiều - một vấn đề đáng để cho các vị lãnh đạo tầm chiến lược suy nghĩ lại.
     Và để có nền tảng rộng, vững chắc làm bệ phóng cho thể thao nước nhà phát triển, để có những tấm huy chương Olympic thể thao nên chăng phải nâng cao hơn nữa nhận thức của cán bộ lãnh đạo các cấp, xây dựng phong trào luyện tập thể dục thể thao sâu rộng toàn xã hội và giao nhiệm vụ đào tạo vận động viên cho ngành giáo dục và đào tạo.