Thứ Hai, 13 tháng 5, 2019

LỆCH DUYÊN


                                             
                                                               Em – bụi ngọc
                                                               Ta – bụi đá
                                                               Hóa thân,
                                                               Gặp nhau
                                                               Chốn hồng trần
                                                               Lệch duyên!

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2019

VIẾT TRƯỚC NGÀY MỪNG THỌ MẸ



          Cha mẹ đưa chúng con đến thế giới này
          Đứa thời chiến tranh, đứa thời bao cấp,
          Bao gian truân, hiểm nguy, khó nhọc
          Nuôi chúng con phương trưởng nên người.

          Cha đi rồi còn lại mẹ thôi
          Đoạn cuối cuộc đời sống trong thương nhớ,
          Con cháu về - đi nặng lòng trăn trở
          Mẹ lặng thầm mà đáy mắt rưng rưng.

          Thương chúng con quá đỗi quá chừng
          Mẹ chẳng thể quên cái thời bao cấp?
          Cuộc sống giờ đây khá đủ đầy vật chất
          Nên để tâm gì với được - mất - hơn - thua.

          Mỗi bữa cơm lưng bát thế là vừa
          Mẹ thích món gì con chưa biết được,
          Thuở nhỏ tranh nhau, lắm khi ngỗ ngược
          Tóc bạc rồi bất chợt thấy vô tâm!

          Thương cháu thương con diệu vợi ánh trăng rằm
          Một đời mẹ như củ khoai củ sắn,
          Dẫu đã đi muôn ngàn vạn dặm
          Với mẹ già - con bé bỏng như xưa!
                                                                Mùng 3 Tết Kỷ Hợi

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

khoảnh khắc bên em

     
           Có một lần che ô cùng em
        Mưa rất nhỏ, quãng đường rất ngắn
        Mùi hương thơm dịu dàng thầm lặng
        Nụ cười em tỏa nắng hồn tôi.

        Kỉ niệm ấy đã khá xa xôi
        Tôi nhớ mãi, chắc gì em còn nhớ
        Đêm thức giấc nghe lòng trăn trở
        Mùi hương thầm vương vấn ở đâu đây.

        Thời gian đo bằng phút bằng giây
        Chầm chậm kéo dài thêm nỗi nhớ
        Nếu mưa lớn, đường xa hơn nữa
        Để bây giờ… còn phải nhớ em không?

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2018

ĐẠO ĐỨC LÀ TÀI SẢN

   
          Trong bất kì xã hội, thời đại nào đạo đức con người là tài sản vô giá. Có đức độ, tài năng lớn thì giúp đời được nhiều, không có tài năng, có đức độ thì cuộc sống của bản thân họ an lành. Vì vậy, đạo đức là tài sản, cái tài sản ấy không tự nhiên có, con người ta phải học tập, tu dưỡng rèn luyện mà thành.
          Đạo đức là gì? Nói tổng quát: đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau, đối với xã hội. Với cá nhân, người có đạo đức luôn luôn tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức ấy.
          Tài sản là của cải vật chất dùng vào việc sản xuất hay tiêu dùng của cá nhân, gia đình hay tập thể, đoàn thể, tôn giáo…chính quyền nào đó. Ngoài tài sản hữu hình, có một loại tài sản vô hình:  đạo đức nghề nghiệp làm nên uy tín, thương hiệu.
Ở Nhật, có một gia đình bán bánh truyền thống, mỗi ngày chỉ bán 100 bánh, không hơn. 08 giờ bán, người mua đã xếp hàng từ 05 giờ, mỗi khách hàng chỉ mua được tối đa 05 cái. Người không mua được sẵn sàng bỏ gấp ba số tiền để mua lại bánh của người mua được, nhưng không ai bán. Tại sao gia đình ấy không làm thêm để bán hay tăng gấp ba giá bán? Vì làm thủ công, nhân công trong gia đình chỉ có mấy người, mỗi người một việc, các công đoạn sản xuất phải đúng qui trình, đủ thời gian nên không thể làm thêm. Hơn nữa, quan điểm sống của gia đình ấy lấy đạo đức nghề nghiệp làm trọng, không chạy theo lợi nhuận với tôn chỉ “khách hàng hài lòng - gia đình hạnh phúc”. Ngẫm ra, văn hóa Nhật Bản được lưu giữ, viết tiếp bởi những gia đình như thế.
Đạo đức không phải chỉ ở nơi lời nói, phải biểu hiện bằng hành động. Còn nhớ ngày 11 tháng 3 năm 2011, đại thảm họa động đất – sóng thần, rò rỉ phóng xạ nhà máy điện nguyên tử  vùng Đông Nhật Bản làm 15.893 người chết, 6.125 người bị thương, 2.572 người mất tích, hàng chục nghìn người mất nhà cửa…nhưng không hề có nạn cướp bóc nào xảy ra. Người dân trong vùng thảm họa ấy nhường nhau từng hớp nước, mẩu bánh mì, cùng lực lượng cứu hộ tìm kiếm người mất tích, chăm sóc người bị thương…Ai cũng nuốt nước mắt vào trong, sẵn sàng giúp đỡ người khác, những hành động ấy lan tỏa, vực dậy tinh thần người Nhật, nên chỉ một thời gian ngắn sau vùng Đông Nhật Bản ổn định cuộc sống.Có ai tính được giá trị hành động xuất phát từ đạo đức thành tiền trong công cuộc tái thiết cuộc sống?
          Ở Việt Nam, chỉ nói riêng công trình cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi thôi, cũng đủ để cho người ít quan tâm thế sự không nén được tiếng thở dài. 34.500 tỉ đồng chi cho tuyến cao tốc ấy bằng thu ngân sách năm tỉnh Tây Nguyên trong hai năm! Thế nhưng chỉ sau một tháng sử dụng đã hư hỏng. Dù cho có vá lại mặt đường nhưng rồi tuổi thọ của nó được bao lâu? Những tai nạn giao thông có nguyên nhân vì mặt đường xấu có ai chịu trách nhiệm? Cho nên, không thể nói sửa lại mặt đường thì chất lượng công trình đảm bảo. Người ta tham nhũng không chỉ ở khâu rải thảm mặt đường đâu, còn ở tất cả các khâu khác nữa. Số tiền tham nhũng bao nhiêu tỉ chưa rõ nhưng có một điều ai cũng rõ: tuyến cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi là công trình kém chất lượng! Cũng không phải ai tham gia quản lí, thi công tuyến cao tốc ấy cũng đều dính vào tham ô, tham nhũng. Kĩ sư L.T.D cán bộ Ban QLDA gói thầu A3 dũng cảm tố cáo những tiêu cực của ông Mai Tuấn Anh (Chủ tịch Hội đồng thành viên VEC) tới Trưởng ban Tổ chức TW, Bộ trưởng GTVT, thì bị côn đồ đánh, rồi bản thân, gia đình bị đe dọa tính mạng. Ai đứng đằng sau những vụ việc ấy đang được công an điều tra làm rõ. Ngẫm ra, đạo đức con người phải gắn liền với dũng khí.
          Hằng ngày, các phương tiện thông tin đại chúng cho chúng ta biết bao nhiêu tệ nạn xã hội. Nguyên nhân của những tệ nạn ấy không có gì khác ngoài lối sống chạy theo nhu cầu vật chất, chụp giật, ích kỉ, thỏa mãn bản năng. Nhìn xa ra đó là hệ quả của phương pháp giáo dục sai lệch, môi trường văn hóa méo mó. Để phấn đấu cho một xã hội bình an, hạnh phúc hơn,có thống kê nào tính được mỗi năm nước ta phải bỏ ra bao nhiêu tiền của, sinh mạng của chiến sĩ công an, hiệp sĩ đường phố, của người dân lương thiện?
          Trong đời thường, chúng ta gặp rất nhiều minh chứng cho quan điểm: đạo đức là tài sản. Ngay trong một gia đình, cha mẹ sẽ cho đứa con nào mượn tiền làm nhà hay đầu tư vào một công việc nào đó? Đứa chí thú làm ăn, biết giữ chữ tín hay đứa có máu mê cờ bạc? Cha mẹ nào không thương con cái, nhưng đặt niềm tin vào con cái thì lại khác.
 Cùng bán một mặt hàng giá cả như nhau, cùng chung một mặt tiền, nhưng tại sao có người bán được nhiều, có người bán được ít? Đó có phải cái “duyên”? Cái “duyên” ấy có gì ngoài lời chào mời, nét mặt, cử chỉ toát lên sự gần gũi, chân thành  xuất phát từ căn cốt đạo đức? Không có căn cốt đạo đức dù có “diễn”như thật bao nhiêu đi chăng nữa cũng không qua mặt khách hàng được. Thất bại của người bán là khách hàng “một đi không trở lại”.
Nhu cầu về vật chất của con người rất chính đáng, chất lượng cuộc sống được ngày một nâng cao thực sự cần thiết nhưng không phải vì thế chúng ta đánh đổi tất cả. Chỉ số tăng trưởng kinh tế hằng năm của quốc gia là điều đáng mừng nhưng sẽ vui hơn nếu như chỉ số hài lòng của người dân năm sau cao hơn năm trước. Cuộc sống giàu có mà bất ổn không bằng vừa phải mà bình an, hạnh phúc. Chỉ số ấy là tài sản, tiền bạc đo được từ đạo đức xã hội. Trên thế giới, đã có một vương quốc lấy chỉ số hạnh phúc thay cho chỉ số phát triển kinh tế, đó là đất nước  Bhutan. Phải chăng quan điểm tư tưởng mới ấy chúng ta cần nghiên cứu, học tập?

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

CON CÁO VÀ TA !

   
          Con cáo không với được chùm nho
          Thèm nhỏ dãi vẫn cho là "xanh lắm",
          Em bên ta dịu dàng, đằm thắm
          Như chùm nho chín mọng - ở trên cao!

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2018

BẾN LAU



Chiều buông ráng đỏ, trăng non
Bến lau xào xạc mỏi mòn lời ru,
Heo may giữ  nhịp sương thu
Người đi năm ấy lãng du phương nào?
Giang chiều lẻ bạn bay cao
Người đi năm ấy có nao nao lòng?
Bao chiều với gió với sông
Vầng trăng in bóng chạnh lòng nước trôi…

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - MỘT TẤM LÒNG THA THIẾT VỚI ĐỜI CỦA NGUYỄN TUÂN



            Giới văn nghệ sĩ nó chung, nhà phê bình văn học nói riêng khi viết về Nguyễn Tuân đều dành cho ông những tán dương mà thành kính, say mê mà trăn trở. Bởi lẽ, vốn văn hóa sâu rộng, tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn dồn nén vào từng câu từng chữ trong tác phẩm khi đồ sộ như núi, khi lắng sâu như biển, khi ung dung như nước chảy mây trôi, thoắt ẩn thoắt hiện hương thơm gió thoảng. Nguyễn say cái đẹp nhưng đó phải là cái đẹp cứu rỗi tâm hồn con người đang phải sống trong đống cặn bã, trong xã hội hỗn loạn xô bồ.
          Đi qua “Vang bóng một thời”, chúng ta cảm ngộ rõ hơn tấm lòng tha thiết với đời của Nguyễn cùng với báu vật Chữ người tử tù.
          Cảm nhận trực giác làm người ta thích thú trước tiên là tình huống truyện. Rồi sau đó từng bước, từng bước kết cấu, chữ nghĩa, chi tiết, nhân vật, Nguyễn tẩm ướp gia vị văn hóa cộng với bí quyết nghệ thuật độc nhất vô nhị mê hoặc độc giả vị cay đắng của thời thế, xã hội; chua chát của số phận con người và ngọt bùi của tình tri âm tri kỉ.
          Về tình huống truyện, đã có rất nhiều bài viết sâu sắc đăng trên các báo, tạp chí, kỉ yếu hội thảo, nếu muốn, độc giả dễ dàng tìm kiếm. Tựu trung, cốt lõi vấn đề có thể cô đúc bằng một câu: Truyện xoay quanh một cuộc gặp gỡ oái oăm giữa những người thực chất là tri kỉ nhưng lại ở vị thế đối nghịch, đối địch nhau.
          Về mặt kết cấu, đây là truyện ngắn giàu tính kịch, kết thúc có hậu. Quản ngục có được chữ của Huấn Cao, người tử tù không “phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. “Phương tiện” mở nút thắt của tình huống chính là cái ĐẸP, mà đó là cái đẹp gắn liền với cái THIỆN.
          Khi chưa đọc Chữ người tử tù, dưới góc độ lí luận sáng tác truyên ngắn, tạo “phông” để cho nhân vật trung tâm xuất hiện chiếm khoảng 20% dung lượng tác phẩm, người ta đã cho rằng mất cân đối trong kết cấu. Nhưng ở đây, Nguyễn “mất” gần 40% dung lượng! Cụ thể truyện có 2665 chữ, Huấn Cao xuất hiện với câu nói: “Rệp cắn tôi, đỏ cả cổ lên rồi. Phải dỗ gông đi thôi” đã là 1064 chữ!
          Điều đặc biệt, với 1064 chữ ấy, Nguyễn vung bút “vẽ mây nẩy trăng”,  nhấn nhá những chi tiết đối lập, tô đậm nội tâm Quản ngục và kín đáo bày tỏ nỗi lòng mình.
          Ngày xưa, tướng lĩnh, quân sư giỏi “trên thông thiên văn dưới tường địa lí”. Nhìn sao để biết thời tiết hay vận mệnh con người. Khổng Minh đã khóc khi thấy chủ tinh Quan Công rơi; Tư Mã Ý mừng vui khi “ngôi sao to như cái đấu sa xuống trại Thục”. Nguyễn cũng đã xót thương Huấn Cao một cách thầm kín: “Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ làng xa đưa lại mấy tiếng chó sủa ma. Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nét đen lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn trụt xuống chân giời không định. Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ, tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều. Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lần lên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”.
          Nhiều ẩn ngữ thay hai từ “ngôi sao chính vị”! Huấn Cao là tên của ông Huấn thụ họ Cao. Ngày xưa, kính trọng người ta gọi nhau bằng chức tước, ví như “quan Trạng”, “cụ Nghè”, “cụ Cử” hay gắn thêm tên quê như “cụ Tam nguyên Yên Đổ”…Thứ đến, dùng họ để gọi kèm theo mĩ từ “tiên sinh”. Chỉ riêng đặt tên cho nhân vật, người đọc đã thấy được tâm ý Nguyễn.
          Chữ người tử tù nhân vật không nhiều: Huấn Cao, Quản ngục, thầy thơ lại, tên lính, bọn lính. Trừ Huấn Cao, tất cả tên nhân vật đều là phiếm chỉ. Phải chăng sử dụng thủ pháp này, chủ ý của Nguyễn tôn nền cho nhân vật trung tâm?
          Đối nghịch với Huấn Cao là “tên lính”, “bọn lính”; xem Huấn Cao là thần tượng là viên Quản ngục, thầy thơ lại. Huấn Cao không chút để tâm đến “tên lính”, “bọn lính”, coi thường, “khinh bạc đến điều” với Quản ngục:
          - Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.
          Thái độ ấy của Huấn Cao xuất phát từ định kiến, cứ quản ngục thì đều  tàn bạo, thị oai với tù nhân. Ông đâu ngờ Quản ngục này là “một thanh âm trong trẻo”. Nguyễn khéo léo chen vào những suy tư của Quản ngục với bình phẩm, thấu hiểu ngắn gọn: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.
Ông trời nhiều khi chơi ác, đem đày ải những cái thuần khiết vào giữa một đống cặn bã. Và những người có tâmđiền tốt và thẳng thắn, lại phải ăn đời ở kiếp với một lũ quay quắt”.
Hai đoạn văn ngắn ngủi với những cụm từ “lòng biết giá người”, “biết trọng người ngay”, “thanh âm trong trẻo”, “những cái thuần khiết” đủ khái quát “thiên lương” quản ngục. Với thiên lương ấy, mặc dù học vấn chỉ mới ở mức “đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, ông vẫn khao khát có được đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết, treo ở nhà riêng và xem đó là “báu vật trên đời”. Cái sở nguyện của viên quản ngục gắn liền với sinh mạng chính mình. Chế độ phong kiến không bao giờ dung thứ bất cứ ai yêu quí di vật của “phản nghịch”, cho dù đó chỉ là thú vui văn hóa!
          Truyện Chữ người tử tù ra đời khi chữ Hán đã đi vào thời mạt vận. Trước đó, khi “đất nước quê hương lộp cộp móng lừa tây, vó ngựa lai, giày đinh sắng đá, và đì đoành ca nông chấm câu cho những vần thơ yêu nước…”, Tú Xương thừng than thở: “Nào có ra gì cái chữ Nho/ Ông nghè ông cống cũng nằm co/ Phen này tớ quyết làm thông phán/ Sáng rượu sâm panh tối sữa bò”. Chữ Nho mai một như thế, sĩ tử quay sang học tiếng Pháp để vinh thân, Nguyễn lại đề cao thú chơi chữ Hán, phải chăng tâm nguyện muốn giữ mãi, nâng tầm vẻ đẹp văn hóa dân tộc? Rồi sau này, trong những ngày kháng chiến chống Mĩ ác liệt, Nguyễn lại say mê viết “Phở”, “Giò lụa” làm chảy nước miếng cả những người ngồi trên mâm pháo. Người ta thấy ở Nguyễn cái gì đó “ngược ngược”, lắm khi gán cho một chữ “ngông” mà đâu biết đằng sau cá tính “khoảnh” ấy là một tấm lòng tha thiết với đời.
Tha thiết với đời là làm cho đời đẹp hơn. Cái đẹp mà Nguyễn hướng đến bao giờ cũng phải tuyệt mĩ nhưng không xa lạ. Đọc Nguyễn, cho dù truyện ngắn đấy nhưng vẫn đậm chất tùy bút, nguyên mẫu Huấn Cao chắc chắn là Cao Bá Quát. Giữa Huấn Cao và Cao Bá Quát có rất nhiều điểm tương đồng về tài năng, tính cách. Cao Bá Quát “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”, nên ngay cả câu giáo huấn trên bức bình phong điện Cần Chánh, vua Tự Đức nổi tiếng hay chữ, tâm đắc lắm cũng bị sổ toẹt. Khi dòng chữ “Tử năng thừa nghiệp phụ/ Thần khả báo quân ân” đập vào mắt, Cao Bá Quát liền lấy hòn son ghi: “Tốt hảo, tốt hảo! Cương thường điên đảo!”. Chuyện đến tai vua, Cao Bá Quát được triệu vào cung. Ông giải trình: “Con không được đứng trước cha, thần không được đứng trước vua”. Được lênh, Cao Bá Quát sửa lại, tạm dịch như sau:
                             Ơn vua, thần phải báo
                             Nghiệp cha, con phải theo.
Rất nhiều giai thoại về Cao Bá Quát không thể Nguyễn không biết.
 Có những chi tiết nhỏ chúng ta có thể lướt qua, có thể không nhận thấy nhưng vô cùng quan trọng trong tác phẩm. Đọc Nguyễn phải thật chậm rãi, suy ngẫm kĩ càng. Chẳng hạn, Huấn Cao cho Quản ngục chữ gì? Nguyễn không nói. Đó không phải là đôi câu đối, không phải bộ tứ bình, càng không phải là bức trung đường. Nguyễn chỉ nói đó là một bức châm. Đây chính là dụng ý của Nguyễn và nó logic với tài năng, tính cách nhân vật Huấn Cao.
Trước khi cho chữ Quản ngục, Huấn Cao chỉ viết hai bức tứ bình, một bức trung đường cho ba người bạn tri kỉ. Tranh chữ tứ bình có thể là “Ngư, Tiều, Canh, Mục” hoặc “Tùng, Cúc, Trúc, Mai” hay “Mai, Lan, Trúc, Cúc”…Tứ bình là những đề tài có sẵn, tùy sở thích của bạn mà viết tặng thôi. Riêng cho chữ bức trung đường lại khác. Bức trung đường được treo sau bàn thờ gia tiên hay nơi trang trọng nhất trong phòng khách. Bức trung đường thường chỉ ba, bốn chữ, thể hiện một tín niệm nào đó của chủ nhân, ví như: “Văn vũ trung hiếu”, “Kính như lai”, “Phúc Mãn đường”…Do vậy, những con chữ viết trên bức trung đường bao giờ cũng là lời ca tụng công đức, đề cao chí hướng hay ghi lại lời giáo huấn tổ tiên. Tự mình cho chữ, viết bức trung đường là khấu đầu trước một dòng họ. Một con người nổi tiếng như Huấn Cao, cúi đầu trước dòng họ bạn thì dòng họ đó phải nổi tiếng tài hoa, đức độ lắm lắm.
Như vậy, Huấn Cao cho chữ không nhiều, tuyệt nhiên không bao giờ ép mình viết câu đối cho dù vàng bạc hay quyền thế. Với sở nguyện của Quản ngục có được đôi câu đối của Huấn Cao lại càng không thể. Huấn Cao cho chữ nhưng nhất định không phải là câu đối, Nguyễn không nói nhưng theo logic, có thể lí giải như sau.
Thứ nhất, câu đối treo trong nhà dùng để ca ngợi đức độ, tài năng dòng họ hay chí khí, hoài bão của gia chủ. Người tặng câu đối phải hiểu tài năng, đức độ của người được tặng. Ở đây, Huấn Cao mới chỉ biết Quản ngục có thú chơi chữ, “biết giá người”, chừng ấy là chưa đủ.
Sinh thời, Huấn Cao chưa viết câu đối cho ai bao giờ. Nguyên mẫu Huấn Cao – Cao Bá Quát cũng vậy, lúc làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai, ông có viết đôi câu đối, tự nhạo, hài hước:
-         Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái.
-         Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.
Thứ hai, tặng câu đối cũng là khích lệ, gửi gắm niềm tin cho người được tặng. Viên quản ngục “đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu. Những đường nhăn nheo của bộ mặt tư lự…”, trên dưới năm mươi rồi, độ tuổi “tri thiên mệnh” rồi, “sự nghiệp” như vậy rồi, thử hỏi nên được tăng đôi câu đối gì đây? Nguyễn rất khéo khi giới thiệu quản ngục mới “Biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền”, cho nên mới “sở nguyện” đôi câu đối chính tay Huấn Cao viết không có gì phải chê trách.
Phù hợp với Quản ngục, Huấn Cao viết bức châm. Về cách treo bức châm cũng giống như treo bức trung đường. Bức châm có thể là một bài thơ ngắn hàm ý sâu xa, tỷ như Xuân hiểu của Mạnh Hạo Nhiên, Cáo tật thị chúng của Mãn Giác thiền sư, Thượng sơn của Hồ Chí Minh…hay là lời khuyên của cổ nhân về đạo đức phẩm hạnh, Huấn Cao vừa để “không phụ một tấm lòng trong thiên hạ”, phù hợp với con người Quản ngục, lại vừa giữ được nguyên tắc sống của chính mình.
Quản ngục xin đôi câu đối, được bức châm nhưng không vì thế mà thất vọng, trái lại, ông hiểu ra sau lời khuyên của Huấn Cao, câu nói: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” là lời khắc cốt ghi tâm chắc chắn  biến thành hành động.
Chữ người tử tù là một khối ngọc bích không tì vết. Tất cả các chi tiết, chữ nghĩa bổ sung, gắn kết logic, chặt chẽ. Để làm nổi bật cái tài viết chữ nhanh và đẹp của Huấn Cao, Nguyễn đã sử dụng thủ pháp “tá khách hình chủ”. Đó là lời thán phục lan truyền trong dân gian. Chữ đẹp không thiếu gì người viết được, song cho có hồn, mạnh mẽ, khoáng đạt thì được mấy người? Đời Đường cả ngàn nhà thơ nổi tiếng chỉ có “trên dưới chục người thành danh từ thư pháp”. Cái khoáng đạt, mạnh mẽ trong từng nét bút Huấn Cao được Nguyễn cài đặt bổ sung bằng các chi tiết: “Thầy có nghe thấy người ta đồn Huấn Cao, ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa không”; hay hành động dỗ cái gông nặng bảy, tám tạ…Rồi ngay cả Quản ngục cũng ý thức được: “Y cũng thừa hiểu những người chọc trời khuấy nước, đến trên đầu người ta, người ta cũng chẳng có biết ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”.
Bấy nhiêu thôi cũng đã rõ cái ý chí tự do, không chịu sống trong xã hội tù túng chật hẹp. Đọc những dòng Nguyễn miêu tả suy nghĩ của quản ngục, bất giác hình tượng Từ Hải hiển hiện trước mặt:
Chọc trời khuấy nước mặc dầu
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
                                                               (Kiều – Nguyễn Du)
Chỉ có những người có sức khỏe, tài năng, tâm hồn phóng khoáng mới phóng được những con chữ “nhanh và đẹp”, để chúng trở thành “báu vật trên đời”.
Khắc họa Huấn Cao chỉ bằng mấy câu nói, vài cử chỉ mà vẫn lồng lộng một con người hiên ngang lẫm liệt, ung dung làm chủ ngục tù, lung linh vẻ đẹp thiên lương, minh chứng cho tài năng xây dựng nhân vật của Nguyễn.
Phải chăng thành công của Chữ người tử tù là sự cộng hưởng cái tâm, cái tài giữa nhân vật, nguyên mẫu nhân vật và tác giả?
Mặt khác, hấp dẫn của truyện không thể không nói đến cái tài sắp xếp các chi tiết đối lập, tương phản. Đó là đối lập giữa sở nguyện của Quản ngục với “khinh bạc đến điều” của Huấn Cao. Đối lập ngay trong cảnh cho chữ mà “xưa nay chưa từng thấy”. Người ta cho chữ khi tâm trạng thư thái, có rượu, có hoa nâng thêm cảm hứng, có mùi hương trầm gợi không khí trầm mặc, thanh tao…Còn đây, người đang phóng những con chữ “vuông lắm, đẹp lắm”, cổ lại mang gông, chân vướng xiềng trong gian buồng giam chật hẹp, ẩm ướt đầy phân chuột, phân gián. Rồi những hình ảnh tương phản giữa ánh sáng ngọn đuốc và bóng đêm, mùi mực thơm, tấm lụa trắng tinh với nền đất ẩm, tường đầy mạng nhện tô đậm ý nghĩa hiện thực và gợi cho người đọc liên tưởng mang tính biểu tượng sâu xa.
Một thành công khác của truyện không thể không nói đến là cách sử dụng từ ngữ. Trong truyện, hai lần Nguyễn dùng chữ “trời”, một lần dùng chữ “giời”. Chữ “giời” là tiếng địa phương của Nguyễn. Đây chắc chắn không phải là sự nhầm lẫn của tác giả hay của nhà in. Nhà văn chỉ sử dụng từ địa phương khi miêu tả văn hóa vùng miền, xây dựng nhân vật hay thể hiện tình cảm của mình. Ở đây,  cách dùng chữ “giời” thuộc khía cạnh thứ ba.
Để tạo không khí cổ xưa của truyện, Nguyễn chọn từ “phiến trát” thay cho “công văn”, “kiểng” thay cho “kẻng”, “thằng thập” thay cho “đội trưởng”…khéo léo dùng từ Hán – Việt: “tập bản đóng dấu son ti Niết”, bộ mặt tư lự, hay những ngữ gợi cảm hoặc tượng hình: “nền trời lấm tấm tinh tú”, “tiếng dội chó sủa ma”, “một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ”…
Từ chọn tình huống, kết cấu truyện, xây dựng nhân vật cho đến cách kể, cách dùng từ ngữ… Nguyễn rất thành công trong thông điệp gửi tới độc giả, đó là cái đẹp phải gắn liền với cái thiện, cái đẹp có thể nảy sinh trong cái xấu, môi trường xấu nhưng không bao giờ chung sống với cái xấu. Cái đẹp có sức mạnh cảm hóa, cái đẹp là bất tử. Huấn Cao nhận cái chết về thân xác nhưng tư tưởng, cảm xúc về cái đẹp là bất tử.
Quan điểm thẩm mĩ của Nguyễn hướng tới cái khác thường, cái phi thường: đẹp phải ở mức tuyệt mĩ, tài phải ở mức siêu phàm. Cái tuyệt mĩ, siêu phàm không phải thần thánh hóa, nó gắn chặt với đời thường, bởi Nguyễn biết “khơi mạch nguồn chưa ai khơi”, chắt lọc “thanh âm trong trẻo” trong bản đàn cuộc đời mà “nhạc luật hỗn loạn xô bồ”. Nguyễn tha thiết với đời, cổ vũ cho suộc đời tốt đẹp hơn -  dù ở thời khắc lịch sử nào – cũng đều bằng những trang viết tài hoa và trách nhiệm của người nghệ sĩ.
                                                                               Mùa hè 2018